Tiên Hiệp Ta Là Tiên Phàm - Bách Lý Tỉ

Thảo luận trong 'Huyền Huyễn - Tu Chân' bắt đầu bởi Lôi Soái, 12/8/18.

  1. Lôi Soái

    Lôi Soái And so the legend begin! Đại Boss

    Được thích:
    315,915
    Ta Là Tiên Phàm
    Tác giả: Bách Lý Tỉ
    Chương 1: Bè trôi đêm đông.

    Dịch: Hoa Gia Thất Đồng
    Nguồn: Bạch Ngọc Sách

    Giới thiệu:


    Tô Trần, một gã thiếu niên phàm giới thân mang Thanh Thạch Lệ, trong lúc vô tình mở ra Linh Đài của bản thân, phát hiện có một tòa Linh Sơn lớn một tấc vuông trong thức hải vô biên, chính là đất Tiên Linh thế ngoại đào nguyên.

    Linh Tuyền có thể đổ vào một mẫu hạt giống tiên, Linh Mạch có thể mở một tòa động phủ, sinh ra đời mấy cái Tiên Linh Nhi, mười dặm linh thảo tiên hoa như tiên cảnh.

    Tác giả của Tử Phủ Tiên Duyên, Tiên Phủ Chi Duyên, Tiên Thành Chi Vương... (Một số đạo hữu nói tên tác giả phải là Bách Lý Tì. Chữ 玺 trong tên tác giả là "Tỉ" trong ngọc tỉ của nhà vua.)






    Mùa đông giá buốt.

    Mảnh trăng lưỡi liềm mọc từ sớm, giờ đương lúc lặn. Trời gần hửng sáng.

    Vùng sông nước thôn Chu lúc này vẫn còn chìm trong màn sương sớm mông lung, chỉ có thể thấy được đường nét mờ mờ ảo ảo.

    Nơi bờ sông im lìm không một tiếng động, hàn phong lạnh lẽo như đao.

    Trong cái tổ trên ngọn cây khô, lũ quạ đã co rúm vì lạnh, chốc chốc lại bật lên tiếng nỉ non, trong sắc trời tờ mờ nghe sao ai oán, hết sức chướng tai.

    Tô Trần đương đứng trên một chiếc bè trúc con con, đôi bàn tay đã ửng đỏ vì lạnh nắm chặt lấy ngọn sào dài. Sào dập dềnh khua trong nước, đưa bè lướt đến giữa lòng sông.

    Phần bè phía sau lưng y đặt một cái sọt đan từ trúc, một ống đèn trúc, và một tấm lưới đánh cá.

    Hoa sóng thỉnh thoảng vỗ nhẹ lên bè, làm ướt đôi giày cỏ của y, nước thấm qua lạnh đến buốt thịt thấu xương. Gió lạnh thổi đến, tấm thân gầy run theo từng đợt.

    Tô Trần là con một gia đình hàng chài nghèo khó của thôn Chu.

    Cuộc sống của dân chài lưới hết sức khó khăn. Thuế thuyền bè của huyện nha Cô Tô vốn đã rất nặng, lại thêm các bang phái giang hồ thường xuyên sách nhiễu, tựa như hai khối đá lớn đồng thời chèn ép khiến cả nhà họ Tô không ai thở nổi.

    Cha mẹ y mỗi ngày ra hồ lớn đánh cá đều đi sớm về khuya, cũng chỉ đủ cho một nhà năm miệng ăn gắng gượng mà sống tạm qua ngày.

    Tô Trần bấy giờ mới chỉ là một thiếu niên mười hai tuổi ốm yếu, nhưng đã chững chạc và hiểu chuyện lắm. Y muốn nhân lúc trời chưa tỏ, còn cách hừng đông một canh giờ, ra sông mà đánh ít tôm cá, bán lấy ít tiền bù đắp thêm chi phí trong nhà.

    Bè trúc ra đến giữa sông, y cắm ngọn sào dài sâu vào lớp đất bùn lắng dưới đáy, khiển bè đứng lại.

    Tô Trần xoa lấy xoa để đôi bàn tay nhỏ đã gần như lạnh cứng, tự làm mình ấm lên một chút. Y xắn tay áo gai lên, từ trong ngực áo lôi ra đá đánh lửa cùng với cỏ khô, gắng đánh hơn mười mấy cái mới nhóm cháy được một búi cỏ.

    Y vội vàng dùng cỏ khô thắp đèn trúc lên, lại lấy một cây gậy chống ngọn đèn rồi đặt xuống mép bè chỗ sát mặt nước.

    Ở nơi sông nước tịch mịch phủ bởi sắc trời tờ mờ này, ánh đèn trúc ảm đạm kia lại trở thành nguồn sáng duy nhất.

    Tôm cá ưa ánh sáng, trong đêm dễ dàng bị ngọn lửa hấp dẫn.

    Nếu rải thêm ít thứ mồi nhử cá như lá ngư thảo(1), giun đất với bánh ngô(2) đã nghiền vụn, hiển nhiên sẽ dẫn dụ được nhiều tôm cá hơn nữa đến kiếm ăn.

    Phép “lửa đèn nhử cá” này là tiểu xảo của ngư dân khi đánh bắt trong đêm, cũng là kỹ thuật sở trường của Tô Trần.

    Tô Trần làm xong mấy thứ này rồi mới rúc người vào sâu trong tấm áo vải gai mỏng manh. Y ngồi xổm trên mặt bè giá lạnh vì thấm nước, cầm sẵn tấm lưới chài, kiên nhẫn chờ đàn cá dưới sông tìm đến kiếm ăn.

    Dưới sông lắm tép nhỏ cá con, nhưng chẳng đáng là bao nhiêu tiền.

    Đi một chuyến xa xôi đến chợ phiên trên bến cửa Tây huyện thành Cô Tô mà bán, một sọt lớn đựng đầy ắp cá tôm be bé cũng chỉ đổi được đôi ba đồng, gần như chẳng đủ tiền cơm cho ngư dân cả một ngày đầu tắt mặt tối.

    Đáng tiền chính là những giống cá lớn, nặng cân.

    oooOoOoOooo

    Lân cận vùng sông nước thôn Chu, thuộc huyện Lâu(3), có một cái hồ lớn sâu hơn trăm dặm gọi là Điến Sơn Hồ. Mặt hồ gió to sóng cả, giống cá diếc lớn sinh sôi.

    Một con cá diếc lớn nặng trên hai cân có thể bán được hơn năm đồng. Bất quá, đó là thứ mà chỉ những người ở huyện thành hoặc khách quý của các quán rượu, quán trọ mới thường được ăn.

    Ngư dân trong thôn Chu đánh được cá lớn đều không nỡ ăn, thường sẽ đem vào huyện thành Cô Tô bán lấy tiền, rồi cầm đi nộp thuế thuyền bè cho huyện nha. Dăm đồng còn thừa lại, mới đi đổi lấy gạo muối dầu vải, miễn cưỡng duy trì sinh kế của một nhà từ già đến bé.

    Ngoài ra, trong hồ lớn còn có ba món trân phẩm cực kỳ hiếm lạ: cá đao lưng bạc, cá đá tuyết hoa, và tôm lớn đuôi đỏ.

    Nghĩ đến ba thứ cá tôm quý giá này, Tô Trần liền sốt ruột.

    Chỉ một con cá đao lưng bạc quý hiếm nặng nửa cân, đem bán cho quán rượu lớn nhất huyện thành Cô Tô - Thiên Ưng Khách Sạn, đã có thể bán được năm trăm đồng: cái giá cao đến nỗi người ta phải líu lưỡi vì kinh hãi, áng chừng ngang cả giá một chiếc thuyền đầy ắp cá mà ngư dân đánh được.

    Tô Trần thường cùng những ngư dân khác đi qua Thiên Ưng Khách Sạn bán cá, quen được đứa nhóc tiếp việc vặt tên A Sửu. Qua lại đôi ba lần như vậy, hai gã thiếu niên trở thành hảo huynh đệ không có lời chi phải giấu giếm nhau, bởi thế y cũng nắm rõ được tình hình buôn bán cá ở huyện thành.

    Chỉ có điều, mấy giống cá quý này cực kỳ khó bắt. Mỗi ngày hàng trăm chiếc thuyền cá xuống hồ, cũng chưa ắt đã được một hai thuyền bắt dính một con trong ba món quý ấy.

    Dù có là tay đánh cá đã mấy mươi năm lão luyện, ở nơi hồ rộng nước sâu này, dùng lưới đánh cá lớn đến mấy trượng cũng khó mà bắt được cá đao lưng bạc.

    Nếu có người ngư dân nào may mắn đánh được một con, nhất định sẽ khoe ầm lên với hết thảy ngư dân ở thôn Chu, mong sao người người đều ngưỡng mộ mình.

    Tiếc là, chỉ có những ngư dân đã tráng niên mới dám lái thuyền cá xuống hồ lớn quăng lưới đánh bắt.

    Tô Trần vẫn còn nhỏ tuổi, người gầy sức yếu, không dám xuống hồ lớn, chỉ có thể chống chiếc bè con ở nơi sông phẳng lặng mà bắt cá. Đối với mấy giống cá là đặc sản lại quý hiếm này, y tuy thèm muốn nhưng cũng chẳng dám ra hồ.

    Ở sông nhỏ thỉnh thoảng cũng có thể bắt được cá diếc lớn bơi ra khỏi hồ.

    Có điều, dòng nước thông từ thôn Chu đến huyện thành Cô Tô lại là một đường sông rất tấp nập. Ban ngày thuyền buôn lớn nhỏ qua lại ít nhất mấy chục chiếc, thuyền cá lại mấy trăm chiếc. Cá lớn dưới sông dễ bị thuyền lớn làm cho kinh hãi, lặn trốn xuống đáy sâu bảy tám trượng, về cơ bản không có cách gì đánh bắt.

    Chỉ có lúc tờ mờ sáng trong một canh giờ ngắn ngủi, khi mặt sông hầu như không có thuyền lớn qua lại, cá lớn mới không bị giật mình mà trồi lên bề mặt tìm ăn sinh vật phù du.

    Đây cũng là cơ hội duy nhất để bắt cá diếc lớn của Tô Trần.

    oooOoOoOooo

    Chẳng bao lâu, mấy đàn cá nhỏ bị ánh đèn hấp dẫn, đã xuất hiện xung quanh bè trúc.

    Tô Trần chịu đựng cơn gió rét thấu xương, ngồi xổm trên bè trúc kiên nhẫn chờ.

    Nghe bụng có hơi đói, y lấy từ trong ngực áo ra một ổ bánh ngô lạnh cứng, bẻ làm đôi mà nhai ăn lần lần để lót bụng, còn thừa nửa cái không nỡ ăn cất trở vào trong ngực.

    Thứ y muốn bắt không phải là mấy con cá tôm bé tẹo đựng đầy một sọt lớn cũng chẳng đáng bao nhiêu đồng này, mà là cá lớn.

    ...

    Cũng chẳng rõ đã bao lâu trôi qua.

    Đột nhiên, dưới sông xuất hiện một đạo ngân quang, trông tựa như một sợi dây bạc đương di động linh hoạt trong nước. Thứ đó trồi lên ăn mồi cá, bị ánh lửa từ ngọn đèn dầu treo trên bè chiếu rọi, trong màn đêm bừng sáng rực rỡ khiến người ta phải kinh ngạc.

    Đấy chính là cá đao lưng bạc!

    Tô Trần trong sát na còn ngỡ mình bị hoa mắt.

    Con ngươi đen nhánh linh động của y không chút nhúc nhích, dán chặt vào sợi dây bạc đang phiêu diêu uyển chuyển nhẹ nhàng ấy. Hô hấp y trở nên dồn dập, tim không ngừng đập thình thịch trong lồng ngực, và sắc mặt y lộ rõ vẻ khó tin.

    Chỉ ở nơi rất sâu bên dưới hồ lớn mới thỉnh thoảng bắt gặp được cá đao lưng bạc. E là thức ăn ở hồ lớn không đủ, nó mới phải bơi ra sông này kiếm ăn trong đêm đông giá lạnh.

    Xem kích thước của con cá đao lưng bạc này, ít nhất phải nặng đến bảy tám lạng!

    Cá đao lưng bạc nặng nửa cân thôi đã có thể bán được năm trăm đồng, cứ thêm một lạng lại bán được thêm một trăm đồng. Cả con cá đao này có thể bán với giá bảy tám trăm đồng, bằng với số tiền y phải làm lụng cả năm trời mới kiếm được.

    Sắc mặt Tô Trần đỏ phừng, tim đập thình thịch.

    Gia đình đã nghèo rớt mồng tơi, y đương nhiên biết con cá đao lưng bạc quý giá này có ý nghĩa nhường nào.

    Nếu bắt được con cá đao này, đến khách sạn ở huyện thành Cô Tô bán với giá cao, liền có thể đổi được mấy túi lớn đầy những thứ như bột gạo trắng tuyết, lương thực, muối ăn và vải vóc mới.

    Bấy giờ là tháng chạp, chẳng mấy chốc đã phải đón tết.

    Tết năm nay đã có thể ăn một bữa há cảo rau củ tôm khô với cơm trắng bát lớn thơm lừng, sẽ không còn phải gặm mấy ổ bánh ngô cứng ngắc cứng còng nữa. Lại còn có thể xé cho đệ đệ, muội muội mấy khúc vải lớn, làm ra hai bộ quần áo mới đón tết.

    Tiền vẫn thừa nhiều, thậm chí còn có thể nộp thuế thuyền bè cho huyện nha Cô Tô, giúp cha mẹ giảm nhẹ phần nào gánh nặng trên vai.

    Cha mẹ mà biết được y giỏi giang thế này, chắc chắn sẽ hân hoan tươi cười, xoa đầu y mà khen lấy khen để.

    Có con cá đao lưng bạc này rồi, năm nay nhất định sẽ là một năm sống thoải mái, tốt lành!

    Tô Trần vội nín thở, cặp con ngươi trong trẻo lấp lánh ánh kim quang của bạc tiền, đôi tay nhỏ nắm chắc cái nơm lưới, bắt đầu thu về một cách hết sức chậm chạp.

    “Cá đao lưng bạc”, hiệu xưng ngọn phi đao trong nước, tuyệt không phải chỉ là hư danh.

    Nó rất dễ bị kinh động, tốc độ bơi lại cực kỳ nhanh, tựa đao chẻ nước, chớp cái đã mất.

    Bắt cá đao lưng bạc thử thách bao nhiêu là công sức của một ngư dân: tâm phải tĩnh, khí phải thu, mắt phải tinh, tay phải thật lẹ!

    Tô Trần nín thở, từ từ thu lưới.

    Chính vào lúc này, trong cái tổ trên ngọn cây ven bờ sông, một con quạ đen chẳng biết tại làm sao đột nhiên tỉnh giấc, phát ra một tiếng kêu thê thiết.

    “Quạ…!”

    Tô Trần đương tập trung toàn bộ tinh thần phải giật mình, đôi tay nhỏ nắm khư khư tấm lưới không kiềm được phải rung nhẹ một cái. Mặt sông gợn lên ít bọt nhỏ.

    Con cá đao lưng bạc dưới sông liền giật mình kinh hãi, bất thình lình quẫy đuôi một cái, nhanh như chớp đã vọt từ mép chiếc nơm lưới ra xa ba bốn trượng, trong nháy mắt lặn xuống đáy sông mất hút không thấy đâu nữa.

    Hỏng!

    Cá đao lưng bạc bị kinh hãi, bơi đi mất rồi!

    Tô Trần nhấc lấy cái nơm lưới rỗng không bên trong chỉ lác đác vài con tép nhỏ, thân người không nhịn được phải run lên. Y chực khóc.

    Đều tại con quạ đen thúi mõm chết bầm kia kêu lung tung!

    Con cá đao lưng bạc đó nặng có đến bảy tám lạng, đáng bảy tám trăm đồng tiền!

    Đáng tiếc, tại con quạ mõm thúi hoắc đó kêu một tiếng mà nát bét hết!

    Mong ước năm nay được sống thật tốt cũng đã tan tành!

    Mắt Tô Trần ngận đỏ, hung hăng nhìn trừng vào cái tổ quạ trên ngọn cây ven bờ.

    Y nổi giận đùng đùng, lướt bè trúc qua bên ấy, tay nắm cây sào dài chọc thẳng vào tổ quạ trên ngọn.

    “Đồ quạ thối tha, cho mày kêu vớ vẩn này!”

    Tổ quạ bị chọc trúng, quạ trong tổ thất kinh kêu loạn xạ mấy tiếng “quạ quạ quạ”, nhưng vẫn ở lì trong tổ, chết cũng chẳng chịu ló đầu ra.

    Hồi lâu, cánh tay đã mỏi nhừ, Tô Trần chán chường quăng mình ngồi phịch xuống bè trúc, nôm ủ rủ hết sức. Gương mặt nhỏ đã ửng đỏ vì sương giá của y phủ một màn u ám thất thỉu.

    Than ôi!

    Tô Trần cũng biết, con quạ này chẳng hiểu gì sất, chỉ là giật mình thức trong đêm sương giá rồi kêu bậy một tiếng mà thôi, cũng chẳng phải cố ý hại y.

    Giận nó mà làm gì!

    Tô Trần than thở một tiếng, lại có chút áy náy, cứ ngóng nhìn tổ quạ trên ngọn cây.

    “Xin lỗi! Tao không nên nhất thời nóng bực mà tìm mày trút giận, chọc phá tổ của mày. Trời đông giá rét này, mày ở trong tổ cũng chịu khổ vì lạnh, chút tép này là tao đền cho mày đó.”

    Tô Trần bóc từ trong sọt ra một nắm tép con, vứt dưới gốc cây già, sau đó chống bè đi đánh cá tiếp. Đợi y đi xa rồi con quạ tự nhiên sẽ bay xuống mà ăn.

    Con quạ kêu lên mấy tiếng “da da” phản đối, rúc trong tổ tiếp tục giả chết.

    oooOoOoOooo

    Một canh giờ sau, Tô Trần rốt cuộc cũng đánh được một sọt đầy cá lớn lẫn tép con.

    Bận rộn cả đêm, tuy không bắt dính con cá đao lưng bạc quý hiếm kia, song cũng thu hoạch được ít thứ khác, bắt được một con cá diếc lớn nặng hai lạng.

    Một con cá diếc lớn đem bán ở chợ phiên thôn Chu, ước bằng với tiều phu đổi về một bó củi lớn đốt được bốn năm đêm đông.

    Năm đồng này chẳng nhiều, nhưng chỉ cần thường xuyên đi đánh, đêm ngày tích góp cũng có thể bù đắp được một ít chi phí trong nhà, cha mẹ cũng vui mừng.

    Tép nhỏ cá con thừa lại trong sọt tuy bán chẳng được mấy đồng, nhưng cũng có thể nấu cho đệ đệ muội muội vài chén canh cá mà ăn. Ăn không hết lại đem đến chỗ nông dân trong thôn Chu đổi ít rau xanh.

    Trời đông này thực khó mà chịu đựng, so với mọi năm phải sống vất vả hơn nhiều.

    Tô Trần đánh được một sọt đầy cá, gương mặt non nớt không giấu nổi vẻ vui mừng. Lúc chống bè về nhà, y thầm ngẫm nghĩ, qua cái tết này đệ đệ muội muội lại lớn thêm một hai tuổi, trong nhà được thêm hai đứa trẻ hiểu chuyện đỡ đần cho cha mẹ, ngày tháng rồi cũng sẽ dần tốt đẹp hơn.

    ------------------------------------------------
    Chú thích của người dịch:
    (1) Ngư thảo: từ này theo bản văn gốc là 鱼草, nhưng mình không rõ ý tác giả có phải 鱼睲草(Hán Việt: ngư tinh thảo), tức rau diếp cá hay không; cũng không rõ giống rau này có thể dùng mồi cá. Vậy xin để nguyên từ Hán Việt.
    (2) Bánh ngô: nguyên là một loại bánh làm từ bột ngô, bột cao lương hoặc một số loại lương thực khác, có dạng hình chóp đơn giản, ruột lõm vào có thể dùng đựng nhân bánh. Tạm dịch “bánh ngô”.
    (3) Huyện Lâu: một địa danh cổ, nay thuộc thành phố Côn Sơn, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.


     
  2. Lôi Soái

    Lôi Soái And so the legend begin! Đại Boss

    Được thích:
    315,915
    Ta Là Tiên Phàm
    Tác giả: Bách Lý Tỉ
    Chương 2: Lửa chài vương giấc

    Dịch: Hoa Gia Thất Đồng
    Nguồn: Bạch Ngọc Sách




    Tô Trần chống bè về nơi có chiếc thuyền chài đang đỗ cập bên bờ sông thuộc thôn Chu, bè chở theo một sọt đầy ắp cá tôm. Gương mặt nhỏ non nớt của y đỏ ửng lên vì phấn khởi. Y chuẩn bị về thuyền gặp cha mẹ.

    Dòng sông vào độ tảng sáng còn mịt mờ sương khói, phải gắng lắm mới có thể thấy được vài đốm lửa đèn ánh ra từ mấy gia đình chài lưới.

    Lửa chài lập lòe hiện lên, khiến người ta phải chăm chú mà nhìn.

    Chiếc thuyền đánh cá cũ kỹ của gia đình Tô Trần đương đỗ bên bờ sông thôn Chu.

    oooOoOoOooo

    Tô gia đã mấy đời làm nghề đánh cá ở vùng sông nước thôn Chu, một nhà già trẻ năm người đều ngụ trên chiếc thuyền chài cũ kỹ này.

    Thuyền đã cũ. Mui thuyền bện từ nan tre và rơm rạ, làm thành một cái lều sơ sài. Trong lều quét một lớp đất bùn ngăn trở hàn phong, từ lâu đã khô nứt, lộ ra nhiều kẽ hở. Cửa lều phủ bởi một mảnh vải mành cũ nát, dùng đã quá lâu nên rách rưới lắm, gió lọt vào được.

    Hàn phong thổi thốc qua mấy khe hở trên mành, trút vào bên trong khoang thuyền một đợt lạnh buốt xương.

    Phần trần bên trên bị khói hun đen kịt, có treo lủng lẳng một ngọn đèn tờ mờ, bên trong dầu đã cạn đến đáy. Lửa đèn chập chờn, tỏa ra một thứ ánh sáng đỏ ảm đạm, người ta nếu miễn cưỡng, cũng có thể thấy rõ tình cảnh trong lều.

    Phía trong lều nơi sát mành cửa là một cái lò đất con con xây từ đất sét đỏ. Trên lò có đặt một cái lọ sành, và ai đó đang nấu một nồi nhỏ lõng bõng cháo trắng, vài lá cải nổi trên bề mặt cháo, bên trong chẳng có lấy chút dầu hay muối.

    Dưới đáy lò, củi khô đang cháy, hoa đốm vù vù bốc ra ngoài.

    Giữa cái rét mùa đông, cả căn lều phải nhờ vào luồng nhiệt khí từ lò tỏa ra mới tạm duy trì được chút ấm áp.

    Cạnh lò đặt một cái thùng gỗ đã cũ, bên trong có vài con cá diếc nhỏ đang thoi thóp thở, áng chừng sắp chết.

    Ở phía trong cùng kê một cái giường gỗ cũ kỹ cùng với chăn đệm đã thoang thoảng mùi mốc. Trên giường, có hai đứa bé người bân bẩn, độ chừng ba bốn tuổi đang say giấc. Chúng nó rúc người trong chăn, có khi ngẫu nhiên rên “ư ư” mấy tiếng.

    Đại đa số ngư dân ở thôn Chu đều sống trong cảnh bần hàn như thế, mỗi độ đón tết ví như có được ít dầu muối thịt cá là đã khấm khá lắm.

    Tô lão ngồi bên bếp lò, tay cầm một cái ống điếu đưa lên miệng, lặng lẽ rít lấy một hơi khói lành lạnh. Gương mặt sạm đen của lão phủ đầy nếp nhăn.

    Thuốc lá cũ, chất thuốc kém lại rất khô, khiến lão thi thoảng bật lên vài tiếng ho khan.

    Tô lão mẫu đang ở bên giường, hai tay bận bịu đan vá một tấm lưới chài cũ rách. Gương mặt bà lộ vẻ buồn lo:

    “Này cha sấp nhỏ, nhà ta năm nay lại chẳng gom được mấy đồng, làm lụng cả năm trời cũng chỉ dành dụm được có bốn lạng bạc vụn. Tết đến sát bên, trước tết còn phải nộp thuế thuyền bè cho huyện nha, tôi thấy chút bạc này chẳng mấy chốc rồi cũng hết.

    Nay chúng ta chuyển số cá đánh được đến huyện thành bán, thì lại chưa thanh xong khoản phí theo cân mà Cự Kình Bang đòi. Cứ như vậy e không qua nổi mùa đông này…”

    Tô lão mẫu tay vá tấm lưới chài, miệng làu bàu mãi chẳng ngớt, chốc chốc lại thở ra.

    Thuế thuyền bè hàng năm ở huyện nha Cô Tô là năm lạng bạc, bắt buộc phải nộp lên quan trước khi sang năm mới. Nếu không, lũ nha dịch hung thần ác sát kia sẽ tìm đến tận nơi phong tỏa thuyền, không cho hạ thủy đánh bắt tiếp.

    Còn Cự Kình Bang, lại là một trong năm bang phái giang hồ lớn nhất thuộc địa giới mười ba huyện của Ngô Quận. Chúng tung hoành ở vùng đất rộng lớn này đã được trên trăm năm, chẳng những chiếm cứ Thái Hồ, trong phạm vi nghìn dặm lũng đoạn cả hồ lớn hồ nhỏ lẫn những tuyến đường vận tải trên sông; lại trưng thu của ngư dân thôn Chu mỗi tháng hai lạng bạc. Ngư dân hàng tháng đều phải giao nộp khoản phí này, bằng không Cự Kình Bang sẽ chặn không cho chuyển cá đến huyện thành bán, có đánh được nhiều hơn cũng chỉ đành để thối rữa trên thuyền.

    Cá không bán đi đâu được, kế sinh nhai chẳng còn, ngư dân đương nhiên lâm vào tuyệt lộ.

    Cự Kình Bang ức hiếp dân lành, cưỡng đoạt nhi nữ, hết sách nhiễu lại cướp bóc. Với những ngư dân hiền lành chất phác ở thôn Chu mà nói, chúng thực không khác chi loài mãnh hổ ác lang ăn thịt người chẳng nhả xương, so với quan lại chốn nha môn còn tàn độc hơn, thế nên họ chẳng dám mảy may phản kháng.

    Tô lão vẫn phì phà khói thuốc.

    Là tay đánh cá lão luyện, lão đương nhiên hiểu rõ mấy món nợ này. Hiện trong nhà vẫn còn thiếu hai lạng bạc, tức hai nghìn đồng nữa. Mùa đông này, thực khó mà chi trì nổi.

    Mỗi độ đón tết chẳng khác chi hứng một trận tai kiếp. Gắng qua được trận tai kiếp này, đến mùa xuân sang năm khi cá lớn trong hồ đã nhiều hơn, thu nhập mới có thể khấm khá hơn một chút.

    Giờ chỉ còn nước mỗi ngày đều nhân lúc trời chưa sáng mà xuống hồ, dốc sức đánh thêm ít cá. Kẻ hán tử chài lưới chất phác như lão, một đời đã phải kiên cường chống chọi như thế.

    Có điều, lúc này đã vào tháng chạp đông giá, nên cá lớn trong hồ rất ít.

    Năm mới đến sát bên, chỉ còn hơn một tháng nữa. Trong quãng thời gian ngắn ngủi này, bất luận thế nào, dù có làm thâu đêm không ngủ, cũng chẳng đào ra nổi hai lạng bạc.

    Cực chẳng đã, chỉ có thể đi tìm một vị hương thân họ Chu là thế gia trong thôn này vay ít bạc, năm sau hoàn trả cả vốn lẫn lãi. Nhưng vị hương thân này cho vay bạc là lãi mẹ đẻ lãi con, mượn thì dễ, trả lại mới khó.

    Tô lão lặng im, rít mạnh một hơi thuốc.

    “Cha sấp nhỏ này, chúng ta bán thằng lớn cho mấy gia đình hào môn trong huyện thành làm người hầu đi. Thằng lớn nay được mười ba tuổi rồi, hiểu chuyện mà cũng làm được ít việc nặng. Ta kiếm cho nó nhà hào môn nào thiện tâm một chút, thế là có đường thoát rồi.” Tô lão mẫu ngẫm nghĩ hồi lâu mới thốt ra cách này, vẻ mặt bà không giấu nổi sự đau xót.

    Thông thường vào tháng chạp, các hộ hào môn trong huyện thành Cô Tô sẽ thu dụng một số thiếu niên nam nữ trên mười tuổi từ các gia đình cùng khổ, nuôi từ nhỏ làm gia bộc, tì nữ. Mấy gia đình đem bán con sẽ được trả một khoản tiền mười lạng bạc gọi là bù đắp, nhưng buộc phải ký khế ước bán thân cả đời.

    Ký khế ước bán thân này rồi thì không còn tư cách thường dân nữa, mà đã là tiện dân, trở thành vật sở hữu riêng của người chủ.

    Nhỡ chủ không phải người nhân hậu, nô bộc dù bị ngược đãi, bị đánh đến chết, cũng không coi là chuyện phạm vương pháp, nhiều lắm chỉ được bồi thường chút ít bạc. Vậy nên, những gia đình cùng khổ hễ còn le lói một hy vọng, ắt sẽ không bán con mình vào mấy nhà hào môn làm nô bộc, đem tính mạng chúng nó đặt vào tay người.

    Thế nhưng, cả nhà quả tình chẳng thể qua nổi mùa đông năm nay, không bán đứa lớn cho người ta mà giữ lại trong nhà, thì còn đường nào sống tiếp đây?

    Tuy nói là làm nô bộc nhà người, song nô bộc của mấy hộ hào môn trong huyện thành đều ăn vận đẹp đẽ sang trọng, ăn cũng ăn ngon hơn dân chài; dù sao cũng còn tốt hơn là chết đói hoặc chết vì tật bệnh.

    Giá còn lối thoát nào khác, Tô lão mẫu cũng không nghĩ đến chuyện để con mình đi làm nô bộc nhà người.

    Song, Tô lão mẫu từ lâu đã hiểu, cuộc sống khốn khó như vậy, biện pháp đơn giản nhất nhưng tốt nhất lúc này chính là: bán mạng Tô Trần để mua về mạng của những người còn lại. Chỉ có như vậy, cả nhà mới có thể sống tiếp…

    “Câm miệng! Nghĩ sao mà đòi bán nó?!”

    Tô lão nổi cơn thịnh nộ. Lão kích động đến mức toàn thân rung rẩy, tay chỉ thẳng mặt Tô lão mẫu, căm giận bà sao lại có thể thốt ra mấy lời này.

    Bắt lão bán đứa lớn đi, có khác chi xẻo mất một phần huyết nhục thân thương của lão?

    “Ông ạ, thằng lớn là khúc ruột năm xưa tôi mang nặng đẻ đau. Giá còn cách khác, tôi cũng nào muốn thế! Ông đừng quên, bệnh tình của nó đã nguy kịch lắm. Nếu năm nay bệnh của nó lại tái phát, nó làm sao mà sống nổi!”

    Tô lão mẫu vừa nói vừa khóc, nước mắt người mẹ giàn giụa trên gương mặt đã nhăn nheo vì tuổi già.

    Năm đó đứa lớn chào đời, Tô lão mẫu không có đủ sữa cho nó bú. Nó đói quá khóc một trận, nước mắt óng ánh sắc xanh chảy xuống giường kết thành hai viên thanh thạch.

    Chỉ một lúc sau, sắc mặt nó đã hóa ra trắng xanh, môi tím tái. Tình huống lúc đó nguy cấp lắm.

    Hai người bọn họ chưa nghe qua căn bệnh “nước mắt hóa thạch” quái gỡ này bao giờ. Ngay trong đêm ấy, hai người đưa đứa lớn đến huyện thành tìm đại phu; rảo hết mười mấy hiệu thuốc trong thành, đại phu nào cũng kinh hãi đến nghệch mặt ra, đều bảo chưa từng nghe nói đến căn bệnh lạ hiếm gặp này, ngay cả y thư điển tịch cũng không thấy ghi chép gì. Thậm chí có đại phu còn nói, mắc bệnh này ắt yểu mệnh, dù có cứu chữa được, về sau cũng phải chết, không sống qua nổi hai, ba tuổi, chi bằng vứt đi thôi!

    Nhưng hai vợ chồng Tô lão đã không vứt bỏ nó.

    Nghe người trong thành nói, Hàn Sơn Đạo Quán ở cửa Tây huyện thành có vị Hàn Sơn Chân Nhân thần thông quảng đại, không việc gì không làm được, hai người bèn tìm đến, quỳ trước cửa đạo quán ba ngày ba đêm, khổ sở cầu xin lão quán chủ.

    Thực không dễ dàng gì mới cầu được lão quán chủ xuất đầu lộ diện khám chẩn cho đứa trẻ chỉ còn thở thoi thóp. Lão quán chủ khám xong, nói bệnh tình của nó rất quái lạ, hẳn là căn bệnh “thiên hận” trong truyền thuyết: ông trời oán ghét nên không để cho nó được sống.

    Viên đá lạ rơi ra chính là “Thiên Hận Thạch”, cơ thể đã thất thoát nguyên khí. Nay dùng nhân sâm để bồi bổ nguyên khí, may ra có thể kéo dài tính mạng; nhưng cũng chỉ cứu được tạm thời, chứ không sao trị tận gốc.

    Liệu pháp này cũng khá đơn giản, có điều nhân sâm lại rất quý.

    Bọn họ vội vội vàng vàng mua của dược đường một củ sâm rừng mười năm tuổi, tiêu luôn số tiền dành dụm được trong gần nửa năm, quả nhiên cứu được mạng đứa trẻ, nuôi dưỡng nó lần lần cho đến giờ.

    Nhà họ Tô mỗi năm đều dành riêng hai lạng bạc để mua sâm cho đứa lớn; để nhỡ nó lại khóc ra lệ thanh thạch, sẽ lập tức dùng chỗ sâm đó để bồi đắp nguyên khí, cứu mạng nó.

    “Năm nay đánh cá chẳng thu hoạch được nhiều, nay cả tiền đóng thuế thuyền cho huyện nha với phí theo cân của Cự Kình Bang đều không đủ, thiếu đúng hai lạng bạc. Nếu nó lại khóc ra lệ thanh thạch, ta chẳng có bạc mua sâm dược cứu mạng nó, chắc chắn nó không qua nổi mùa đông này!

    Nhưng với tình trạng hiện tại, chúng ta có dư được bao nhiêu tiền đâu mà mua sâm?

    Đưa đứa lớn đến gia đình hào môn trong huyện thành làm gia nô, chí ít nó không phải lo cái ăn cái mặc, nói không chừng còn dư được chút đỉnh tiền lấy vợ. Còn như để ở nhà, ngộ nhỡ phát bệnh…”

    Tô lão mẫu nói dông dài một hồi vẫn là loanh quanh nỗi nhọc nhằn suốt mấy năm nay.

    Tô lão trầm ngâm, chỉ im lặng rít một hơi thuốc lạnh, đầu cúi thấp hơn. Mấy lời Tô lão mẫu nói đó, lão sao mà không hiểu được.

    Cái tên “Trần” ấy của đứa lớn cũng do Hàn Sơn Chân Nhân tiện tay đặt cho. Ngài bảo dưới gầm trời duy có bụi đất là ti tiện, đặt như thế lão thiên sẽ không sinh lòng oán ghét, dễ dàng sống tiếp.

    Đứa lớn từ nhỏ đã hiểu chuyện, rất ít khóc, quanh năm suốt tháng chưa ắt được một lần rơi lệ. Nhưng tính đi tính lại, hơn mười năm nay Tô Trần cũng đã lục tục khóc mười mấy lần. Phần lớn số bạc vợ chồng lão dành dụm được trong ngần ấy năm đã chi ra để mua sâm dược. Lão phải tích cóp từng đồng để mua thuốc, nên lão làm sao lại chẳng hiểu mấy lời vừa nãy.

    Năm lạng thuế thuyền của huyện nha mỗi năm cùng với hai lạng phí theo cân của Cự Kình Bang mỗi tháng là gánh nặng trên vai cả nhà họ, đè nặng đến nỗi bọn họ đều thở không ra hơi. Cái gánh ấy đã nặng, bên trên còn chèn thêm một khối đá nặng trình trịch: căn bệnh lạ mà Tô Trần mỗi năm có khi sẽ phát tác. Thực là đã nghèo còn mắc cái eo.

    Tô lão mấy năm nay đã phải cắn răng chịu đựng, kiên cường gánh đỡ.

    Mùa đông năm nay thu hoạch quá kém, tiền bạc trong nhà quả tình hết sức thiếu thốn, về cơ bản đã chẳng còn dư được bao nhiêu. Mà cũng chẳng ai dám nói trước, khi nào thì đứa lớn sẽ khóc tiếp. Nếu nó lại rơi lệ lần nữa, trong nhà không còn tiền bạc mua sâm cứu mạng, e là nó thực sự phải yểu mệnh.

    Nghĩ đến đây, Tô lão chau mày lặng im, vùi đầu rít tiếp một hơi thuốc khô khốc.

    Có lẽ, mẹ nó nói đúng.

    Đem nó đến huyện thành bán cho mấy nhà giàu có làm nô bộc, ngày tháng sau này sẽ rất khốn khổ, thường bị chủ nhà đánh mắng, nhưng dù sao cũng có thể đổi về mười hai lạng bạc, kịp thời mua sâm dược cứu một mạng của nó.

    Thế đạo gian nan, có thể sống tiếp coi như lão thiên đã khai ân, nào dám tham cầu gì khác.

    Nếu không có tiền mua sâm dược, mạng đứa lớn chẳng còn, thì cũng chẳng còn gì nữa.

    oooOoOoOooo

    Thuyền chài cũ.

    Sương khói lượn lờ.

    Đèn dầu ảm đạm.

    Trong lều, Tô lão mẫu khi nín lặng, khi than khóc.

    Còn Tô lão, cả buổi chỉ im lặng hút thuốc, trầm tư chờ đợi. Đứa lớn quay về, lão sẽ đem sự tình nói rõ ràng cho nó hay. Ai chứ đứa trẻ này, chắc sẽ… đồng ý mà.

    oooOoOoOooo

    Bên ngoài chiếc thuyền chài rách rưới, cũ kỹ của nhà họ Tô...

    Trên chiếc bè trúc con, trơ trọi mình Tô Trần đứng đó, niềm vui sướng khi đánh cá trở về đã sớm tiêu biến. Sắc mặt y trắng bệch như tuyết, từ trong tròng mắt hồn xiêu phách lạc, tấm thân ốm yếu mỏng manh không sao dằn nổi cơn run rẩy, đôi bàn tay nhỏ siết chặt lấy ngọn sào trúc.

    Y cắn lấy môi dưới, cắn chặt đến suýt thì bật máu.

    Tô Trần biết rõ bản thân mình mang quái bệnh bẩm sinh từ bé, mỗi lần rơi lệ thanh thạch, nguyên khí sẽ bị thương tổn nặng nề mà trở bệnh, tựa hồ mất gần nửa cái mạng; khiến cho gia đình đương lao đao phải hứng thêm một trận tai kiếp lớn.

    Cái mạng này của y lay lắt như ngọn lửa chài chập chờn trước gió đông, bất cứ lúc nào cũng có thể vụt tắt.

    Mỗi lần như thế, cha mẹ y đều mày chau mặt ủ, phải hao phí chỗ bạc dành dụm hơn nửa năm để đến hiệu thuốc trong huyện thành mua về một gốc nhân sâm, sắc với canh cá cho y bồi bổ nguyên khí.

    Tô Trần vẫn luôn canh cánh trong lòng chuyện này.

    Từ thuở lên năm, lên sáu y đã hiểu chuyện, bắt đầu phụ giúp cha mẹ làm ít việc vặt, hơn mười tuổi đã có thể tự mình đánh lấy ít tép nhỏ cá con kiếm chút tiền, nghĩ hết cách này đến cách khác để đỡ đần, giảm bớt gánh nặng cho cha mẹ. Y muốn dành dụm tiền mua sâm dược, gắng sức thúc mình sống tiếp.

    Thế nhưng, tận tai nghe được cha mẹ muốn đem mình bán cho nhà giàu trong huyện thành làm nô bộc, Tô Trần tưởng như sét đánh ngang tai, lòng đau thấu.

    Cha mẹ không cần y nữa, muốn bán y rồi!

    Đầu óc Tô Trần chợt đần ra, trống rỗng. Y cố dằn cơn đau trong lòng, không để hóa thành lệ trào ra khỏi hốc mắt.

    Cái tin dữ này bao năm nay y không dám đối mặt, rốt cuộc cũng đã xảy đến.

    Y ngẩng đầu, nhắm nghiền mắt. Phải rất lâu sau, y mới từ trong cơn ác mộng hoàn hồn trở lại, lòng không dám có chút oán hận.

    Cha y, mỗi ngày trời còn chưa sáng đã xuống hồ lớn neo thuyền đánh bắt, hoàng hôn buông xuống mới về nghỉ ngơi. Mẹ y, ban ngày theo phụ cha y quăng lưới, đến tối ở nhà vá lưới, đan áo, thức đến tận khuya mới chịu đi ngủ.

    Cha mẹ nuôi y vất vả mười hai năm, mái đầu sớm đã bạc, ân trọng như núi. Họ đều đã tận sức rồi.

    Chỉ là… Chỉ là… Chính tai nghe thấy cha mẹ bàn nhau bán mình cho nhà giàu trong huyện thành làm nô bộc, lòng Tô Trần thực sự rất khó chịu, khó chịu đến mức chỉ chực khóc. Nhưng nếu khóc ra thì lại trở bệnh nặng, mà y đã chẳng còn tiền mua thứ sâm dược đắt đỏ đó. Không có sâm dược, chết là cái chắc!

    Y không muốn chết!

    Tô Trần nghe lòng chua xót nhưng không dám khóc, đành cắn chặt môi, cố nén không cho lệ ứa ra khỏi khóe mắt. Cứ thế, y quanh quẩn bên ngoài chiếc thuyền chài cũ hồi lâu...

    Y sớm hiểu chuyện so với những đứa trẻ cùng trang lứa, song chung quy vẫn chỉ là một thiếu niên mười hai tuổi đơn thuần. Tính mạng của mình nguy biến, nhưng y chỉ đành bó tay chịu trói, mù tịt chẳng biết làm cách nào, cũng lưỡng lự chẳng biết đi về đâu.

    Căn bệnh này xem ra cả đời trị chẳng khỏi, không thể tiếp tục lệ thuộc gia đình nữa. Gia đình không còn bị căn bệnh quái ác của mình làm liên lụy, áp lực sẽ giảm nhẹ rất nhiều.

    Nay đi huyện thành Cô Tô tìm một công việc chân tay, tự nuôi sống chính mình, nói không chừng còn có thể kiếm thêm ít tiền gửi về cho gia đình, đỡ đần phần nào cho cha mẹ. Nếu lại phát bệnh… thì ở bên ngoài tự sinh tự diệt vậy! Tô Trần làm ra vẻ thản nhiên.

    Y cảm thấy toàn thân lạnh cóng, sắp sửa cứng đờ, bèn ra sức xoa tay xoa chân, rồi với lấy cái sọt đầy ắp cá tôm trên bè, nhẹ nhàng đặt xuống đầu thuyền cá.

    Suy đi tính lại, y lại cởi lấy cái túi tiền nhỏ bằng vải ở bên hông, bên trong ấy đựng hơn bốn năm chục đồng bạc.

    Mỗi lần đi đêm đánh cá xong, theo chân mấy ngư dân trong thôn Chu đến huyện thành bán, Tô Trần đều để dành riêng cho mình một đồng, phòng khi bản thân mình rơi lệ thanh thạch cũng có sẵn để đi mua sâm dược cứu mạng.

    Số tiền ít ỏi mà y gom góp được này chẳng đáng là bao, cũng không mua nổi một gốc sâm. Nhưng chẳng mấy chốc đã sang năm mới, cái túi con con này để lại cho đệ đệ, muội muội sắm thêm bộ quần áo mới, giúp cha mẹ bớt được phần nào ưu phiền.

    Tô Trần đặt cái túi nhỏ này xuống đầu thuyền.

    Trong ngực áo y chỉ còn sót lại một cái túi vải nhỏ đựng hơn mười viên thanh thạch lệ, cùng với nửa ổ bánh ngô lạnh cứng lúc tảng sáng đi đánh cá còn chưa ăn hết. Ngoài mấy thứ này ra, trên người y chẳng còn sót lại vật gì có giá trị.

    Tô Trần quỳ phục xuống mặt bè ngấm nước lạnh giá, kính cẩn hướng về phía thuyền chài dập đầu ba cái.

    Con phải đi rồi!

    Cha, mẹ, xin bảo trọng, thứ cho hài nhi không thể nương dưới gối cha mẹ tận lòng hiếu kính.

    Nhị đệ, tam muội, lần này ly biệt, ca ca không thể ngày ngày chăm sóc hai em nữa! Hai em nhất định phải sống thật tốt, sớm trưởng thành để thay ca ca tận hiếu với cha mẹ.

    Gương mặt nhỏ non nớt của Tô Trần không giấu nổi vẻ bi thương, lạy xong đứng dậy, đôi bàn tay nhỏ ửng đỏ vì lạnh của y trầy trật nắm lấy ngọn sào trúc.

    Bè lướt chầm chậm về phía lòng sông xa xôi.

    oooOoOoOooo

    “Rào rào…!”

    Tô lão dường như loáng thoáng nghe thấy bên ngoài thuyền cá có tiếng vỗ nước. Lúc đầu lão cũng chẳng để ý, tưởng là có hộ chài nào khác ra hồ lớn đánh bắt sớm, lúc ngang qua thuyền của lão làm sóng nước bắn lên.

    Đột nhiên, lão sực nhớ ra, đứa lớn ban đêm ra sông đánh cá, thường độ khoảng giờ này đã về đến. Chẳng lẽ lại là tiếng bè trúc của nó?

    Mặt lão vừa biến sắc, lão liền tung cái mành rách nát xông ra bên ngoài lều.

    Trước mắt lão chỉ thấy, ở phía đầu thuyền, một cái sọt đầy cá tôm được đặt ngay ngắn, phía trên còn có cái túi tiền nhỏ bằng vải là vật bất ly thân của đứa lớn. Cái túi đặt ngay ngắn chỉnh tề, mặt vải không có chút nếp nhăn.

    Còn gương mặt đầy nếp nhăn của Tô lão lộ rõ vẻ kinh hoàng.

    Đồ đạc của đứa lớn ở đây, nhưng nó lại chẳng thấy đâu.

    Lẽ nào nó nghe được mấy lời ban nãy mẹ nó nói?

    Đứa lớn bề ngoài hiểu chuyện, tính cách điềm tĩnh, không xốc nổi, nhưng bên trong lại cực kỳ cương liệt; là kiểu thiếu niên dù có bị đánh rớt răng cũng quyết ngậm máu trong miệng, không thốt một lời, ngoan cường mà nuốt ngược vào bụng.

    Nếu đứa lớn nghe được họ muốn bán nó, chắc chắn sẽ không chịu nổi sự kích động như thế, chẳng biết còn làm ra chuyện ngốc nghếch gì nữa.

    “Con ơi… Quay lại!” Tô lão không tự kiềm chế nổi nữa...

    Tô lão mẫu cũng cuống lên, lảo đảo xông ra khỏi khoang thuyền.

    “Con à! Mẹ sai rồi, về nhà đi con!”

    Tiếng gào khóc xé lòng của người mẹ văng vẳng trên mặt sông.

    Thế nhưng, ở nơi sông nước tối tăm này, mù sương đã giăng mắc khắp đất trời, hình bóng chiếc bè trúc lẻ loi của Tô Trần biết tìm nơi đâu...


     
  3. Lôi Soái

    Lôi Soái And so the legend begin! Đại Boss

    Được thích:
    315,915
    Ta Là Tiên Phàm
    Tác giả: Bách Lý Tỉ
    Chương 3: Trên bến Tây Môn

    Dịch: Hoa Gia Thất Đồng
    Nguồn: Bạch Ngọc Sách




    Sông Tô như gương, phản chiếu đôi bờ non nước tú lệ. Sóng biếc lăn tăn gợn, vỗ về một bờ lau sậy khô héo.

    Chiếc bè trúc con con xuôi theo lòng sông về hướng huyện thành Cô Tô, trên chuyến hành trình thỉnh thoảng bắt gặp cảnh thôn quê tịch mịch. Giữa trời đông tháng chạp giá rét, ngàn dặm điền viên trải dài, hiu hắt.

    Tô Trần nghe đói, bèn lấy nửa ổ bánh ngô còn thừa ra ăn nốt, tạm lót dạ một chốc; lại vốc lấy hai vốc nước lạnh buốt từ dưới sông lên, ngậm trong miệng cho ấm rồi mới nuốt vào bụng giải cơn khát.

    Chống sào đi suốt, lúc này đã mệt nên y cũng không vội, uống ít nước lại tiếp tục lên đường vậy; miễn đừng để bè dạt vào bờ hay va phải thuyền khác là được. Tuyến đường sông này, Tô Trần dạo trước hay đi qua nên quen thuộc quá rồi.

    oooOoOoOooo

    Qua mấy canh giờ, đường sông dần tấp nập lên. Ước độ giữa trưa, Tô Trần chống bè về đến bến Tây Môn của huyện thành Cô Tô.

    Bến Tây Môn lúc chính ngọ, thuyền cá và thuyền hàng lớn nhỏ neo đậu khắp, cảnh tượng phồn hoa náo nhiệt dị thường.

    Hiểu biết của Tô Trần về huyện thành Cô Tô không nhiều. Y chỉ đơn thuần nghe ngóng các ngư dân khác trong lúc đánh cá hoặc trong buổi trà dư tửu hậu nói chuyện rỗi với nhau, mới hay Cô Tô là huyện thành có phạm vi lớn nhất trong mười ba huyện thành thuộc Ngô Quận. Địa hạt nơi đây mênh mông thiên lý, thành nội có đến mười vạn hộ dân đang cư trú, cũng là chốn phồn vinh bậc nhất Ngô Quận, đẹp đẽ tú lệ tựa gấm hoa.

    Bởi tuyến đường sông qua đây cực kỳ phát triển, nên Cô Tô trở thành đầu mối vận tải thủy của cả mười ba huyện thành. Thuyền cá từ các tiểu trấn thôn quê và các huyện lân cận đến đây tấp nập. Ngay cả tàu buôn lớn từ phương Bắc xuôi về Nam hay từ các quận miền Nam ngược ra Bắc cũng thường hay cập vào bến tàu bên ngoài huyện thành để tiến hành bốc dỡ và vận chuyển hàng hóa.

    Dù đương lúc tháng chạp đông giá, trời đất lạnh lẽo, huyện thành Cô Tô vẫn hết sức nhộn nhịp. Người bản huyện rất nhiều, mà người từ nơi khác theo thuyền buôn đến bến Tây Môn cũng không ít.

    Trong số đó, có kẻ là khách thương hồ tay xách nách mang, dáng vẻ vội vội vàng vàng; có người là giang hồ hào sỹ, lưng giắt lợi đao, thân mang khí phách; còn có nghệ sỹ diễn tấu tạp kỹ, hý khúc các loại.

    Không chỉ ngư dân đem cá đến đây bán, nông dân cũng đến bán hoa quả, tiều phu đến buôn củi, thợ săn buôn của ngon vật lạ từ rừng núi, lại có kẻ gánh gánh hàng rong cùng khắp, qua hết đường này đến ngõ khác. Người qua kẻ lại không ngớt.

    Ngoài cổng Tây của huyện thành có một đoạn Phong Kiều(1) bằng đá. Trên bến sông ngay cạnh Phong Kiều, lắm hàng quán rong bày bán, hình thành nên một khu chợ phiên ngay bên ngoài cổng thành.

    Từ bến này trông ra, có thể thấy ở cách đó không xa, chính là ngôi cổ quán nghìn năm, tiếng tăm lẫy lừng của huyện thành Cô Tô: Hàn Sơn Đạo Quán.

    Rất đông phu khuân vác ở nơi này nhọc nhằn mưu sinh, trời chưa sáng đã quẩy đòn gánh đến chờ sẵn tại bến đỗ cạnh cầu đá, oằn lưng đợi thuyền cập vào để dỡ hàng. Công việc nặng nề như thế lại không dễ gì kiếm được.

    Những phu xe, kiệu phu ở cách đó không xa lại đương đỏ mắt ngóng theo mấy chiếc thuyền khách kia, đợi chờ những hộ giàu có đến ngồi kiệu.

    Tô Trần chống chiếc bè con đi gần nửa ngày trời, tay chân đều đã nhũn cả ra. Chợt thấy trước mắt mình là đoạn Phong Kiều bằng đá, y không kiềm được nỗi vui sướng trong lòng, liền cập bè vào bến, nhảy lên bờ.

    “Bánh bao với màn thầu nóng hổi, thơm phức đây...! Một đồng một vỉ, bao no nha!”

    “Lại đây ăn thử trái cây tươi ngon thượng hạng nè bà con ơi, mới hái ngoài ruộng xong luôn!”

    “Củi khô, rơm khô chất lượng đây, năm đồng một gánh!”

    Hàng quán ở chợ phiên Tây Môn có bán màn thầu, sữa đậu nành nóng, cả bánh quế hoa dùng làm điểm tâm sáng cũng có. Ngư dân đến buôn cá, nông dân gánh hoa quả, tiều phu bán củi… Hết thảy bọn họ đều lớn tiếng rao hàng kéo khách.

    Tô Trần bước lần trên bến, hết ngóng đông lại ngó tây, trên gương mặt thơ ngây hiện rõ vẻ băn khoăn, ngơ ngác.

    Phải khó khăn lắm y mới hạ quyết tâm bỏ nhà ra đi, định đến huyện thành tìm một công việc tự nuôi sống chính mình. Nhưng đến trước cửa Tây phồn hoa náo nhiệt này rồi, y mới chợt thảng thốt: biết phải đi đâu tìm việc đây?

    Y ở huyện thành Cô Tô này không có lấy một người thân thích để nương nhờ, chỉ quen mỗi tên hảo huynh đệ là A Sửu ở Thiên Ưng khách sạn. Nhưng A Sửu chỉ là đứa nhóc làm thuê làm mướn, tiếp việc vặt trong khách sạn, cuộc sống quả tình chẳng khá hơn y được bao nhiêu, cũng hết sức khó khăn.

    Y không muốn liên lụy A Sửu, chỉ mong ở đất huyện thành này tìm được một việc gì, dựa vào chính sức lực của mình nuôi lấy mình.

    Tô Trần đi được một đỗi, lúc ngang qua một gánh hàng rong, thấy trên xửng hấp có vỉ màn thầu thô lương(2) đương lên hơi nghi ngút, thèm quá không nhịn được, nuốt nước miếng ừng ực mấy cái.

    Y liếm môi, xoa xoa cái bụng đang đói cồn cào, rất muốn mua vài cái màn thầu nóng hổi, trắng bong bóc kia ăn.

    Một đồng một vỉ màn thầu thô lương, cũng không quá đắt.

    Nhưng y lần đến thắt lưng mới sực nhớ ra túi tiền đã bỏ lại thuyền chài, trên người chẳng còn một cắt, không mua nổi màn thầu rồi. Nửa ổ bánh ngô vừa lạnh vừa cứng y mang theo, giữa đường cũng đã ăn hết.

    Tô Trần xoa cái bụng lép kẹp, có chút buồn phiền.

    Y lớn lên ở vùng sông nước thôn Chu, chỉ hiểu chuyện mò tôm bắt cá. Rời nơi sông nước đến huyện thành Cô Tô phồn hoa này, y cũng chẳng biết phải dựa vào thứ gì để kiếm tiền nuôi cho no cái bụng ấy.

    “Phải nhanh nhanh tìm được việc vặt gì để làm, kiếm được tiền, mới mong có thể sống yên ổn ở đất này.” Tô Trần nghĩ thầm, trong lòng lo lắng. Y rảo khắp chợ phiên Tây Môn, chạy đến từng hàng rượu, hàng thịt, quán trà, quán nước dọc theo con phố xin việc, nhưng chẳng có nơi nào cần y. Mấy hàng quán đó nếu không phải chê bai y còn bé, thì cũng cho là y quá yếu ớt, không dễ sai việc.

    Tô Trần bị cự tuyệt liền mấy phen, thần sắc chán chường. Y không nghĩ ở nơi chợ phiên náo nhiệt này, tìm một việc vặt, theo phụ người ta thôi cũng khó khăn đến thế.

    Y đã hơn nửa ngày chẳng có gì bỏ vào bụng, đói đến toàn thân rã rời, cứ tiếp tục như vầy, chưa đến hai ba hôm đã phải chết đói trên phố.

    “Thuyền lớn đến rồi… Có việc làm rồi!” Đám đông phu khuân vác trên bến Tây Môn lập tức ồn ào hẳn lên.

    Tô Trần đương rầu rĩ chợt nghe thấy tiếng huyên náo, kinh ngạc ngẩng đầu lên nhìn.

    Chính vào lúc ấy, y trông thấy một con thuyền chở gạo rất lớn đang từ từ cập vào bờ, đỗ lại bên bến tàu gần cầu đá.

    Tô Trần sửng sốt, trong lòng hết sức mừng rỡ. Thuyền gạo lớn đến thế, chắc chắn có rất nhiều gạo phải bốc dỡ, hẳn cần một lượng lớn nhân công!

    Y trông thấy đứng lẫn giữa đám đông phu khuân vác có một đầu tử(3) mặt đen, cũng đang ngóng đợi con thuyền hàng lớn kia cập bến.

    “Ta nữa! Đại ca ơi, tính cả ta nữa, ta cũng có thể dở hàng!” Tô Trần vội ba chân bốn cẳng chạy đến chỗ đầu tử mặt đen để xin một công việc. Muốn có chuyện làm trên bến này, tất phải theo chân quản đốc mới kiếm được chén cơm ăn.

    Đám hán tử khuân vác lập tức cười rộ lên: “Chưa từng thấy thằng nhãi nào lắm mồm thế này, đang kêu gào hóng hớt cái gì đấy hử!”

    “Đi đi! Thằng oắt con này ở đâu đến phá phách thế?” Đầu tử khuân vác mặt đen thấy Tô Trần bạt mạng chui vào trong đám người, một tay nắm lấy tấm thân gầy gò yếu ớt của y nhấc bỏ ra ngoài, lại vung tay xua đuổi, bắt y mau mau rời đi.

    Bất kỳ người nào trong số thủ hạ của gã cũng có thể gánh ít nhất một, hai trăm cân. Tên tiểu tử này tay chân mảnh khảnh, ắt không gánh nổi mấy mươi cân.

    Lại thêm, hiện giờ đương lúc trời đông tháng chạp, dân lưu vong nhiều, bến Tây Môn này không hề thiếu nhân lực. Vẫy bừa thôi cũng vẫy được mấy mươi tay hán tử đang đói rã ruột, đỏ mắt ngóng việc làm, đằng sau còn một nhà mấy miệng ăn phải chăm lo. Cần chi gọi một đứa con nít đến làm cái công việc thô trọng này?!

    Tô Trần bất giác nóng ruột, mồ hôi vã ra đầy đầu. Nếu không kiếm được tiền, không mua nổi màn thầu, chỉ e y phải chết đói ở huyện thành này.

    Chính lúc ấy, y thấy một thương nhân trung niên bước ra từ bên trong khoang thuyền, băng qua tấm ván gỗ đi vào bờ. Người này thân khoác ác da, nôm rất phúc hậu. Theo sau ông ta còn có một quý phu nhân vẻ ngoài đầy phúc khí, tay dắt một thiếu nữ hình mạo thanh tú.

    Y phục của ba người bọn họ tinh xảo, đẹp đẽ, lộ rõ sự sang trọng, xa hoa, đương nhiên cách biệt hoàn toàn so với đám đông bình dân lẫn sai dịch trên bến.

    Theo sát phía sau người thương nhân trung niên này còn có mười mấy tên gia đinh, tôi tớ tay cầm gậy gộc, thêm vài mụ già xách lỉnh kỉnh đồ đạc, hành lý.

    Đây rõ ràng là một gia đình hào môn trong huyện thành.

    Vị tiểu thư nhà giàu ấy khoác một tấm áo lông chồn rất dày, môi thật đỏ răng thật trắng, tuy mới khoảng mười một, mười hai tuổi mà đã là một tiểu mỹ nhân trời sinh. Khuôn diện nhỏ nhắn của nàng phớt phớt hồng trong làn gió đông, yêu kiều động lòng người.

    Tô Trần giật bắn mình, vội lùi về một bên, không dám cản đường gia đình phú thương ấy.

    Tiểu mỹ nhân nhà giàu bước xuống thuyền, vừa khéo trông thấy Tô Trần vì quá căng thẳng mà mồ hôi đã chảy thành dòng nhễ nhại trên mặt, giống hệt một con khỉ con đang sợ đến cuống quýt lên. Nàng không nhịn được nhoẻn miệng cười khúc khích, nụ cười rạng rỡ như hoa.

    Nhưng rất nhanh, nàng ý thức được giữa hai người có sự cách biệt về thân phận, bèn nghiêm nét mặt, lạnh lùng “hừ” một tiếng, trên khuôn diện nhỏ nhắn lộ ra vẻ khinh miệt, không buồn ngó đến y nữa.

    Tô Trần nhận ra sự khinh bỉ trong ánh mắt của vị tiểu thư ấy, tự lấy làm hổ thẹn, lại lùi về sau một chút, mặt đỏ bừng như bị lửa thiêu đốt. Y cúi đầu, chẳng dám nhìn thêm.

    Đầu tử mặt đen đang đứng đợi trên bến tàu liếc mắt đã nhận ra đấy là phú thương họ Lý, trong tay nắm những mấy cửa hàng gạo ở huyện thành Cô Tô. Hẳn ông ta vừa từ tiểu trấn thu gom lương thực trở về.

    “Ai dô, Lý lão gia, ngài mới đi buôn gạo về đấy à, làm ăn phát đạt ha, mọi chuyện trên đường đều thuận lợi chứ hả...?!” Phu khuân vác mặt đen vội vàng tiến lên phía trước, khom mình chắp tay, ton hót bợ đít vị phú thương bán gạo kia một hồi, hy vọng xin được một chân bốc dỡ gạo.

    “Ai, năm nay thế đạo gian nan quá, bên ngoài huyện thành khắp nơi đều có dã tặc thảo khấu. Bản lão gia chuyển một thuyền gạo đi tiểu trấn mà phải đem theo mười mấy gia đinh trong phủ hộ tống. Đi con đường này thực tình thấp thỏm không yên được!”

    Phú thương họ Lý lắc đầu bước xuống bến, có vẻ khá thân với gã phu khuân vác mặt đen.

    “Lý lão gia bình an quay về thì tốt rồi, đến huyện thành là yên ổn. Có quan sai canh giữ, đám giặc cướp trên sông cũng không dám đến gần huyện thành. Đợi qua mùa đông này bọn tặc khấu chết đói rồi, chắc sẽ ổn định thôi mà.”

    “Quan sai? Ai da! Tốt nhất là chớ có dây vào. Mà thôi dẹp đi, đừng có ở đó nói tào lao nữa. Lão hắc đầu này, ngươi kêu người chuyển hết chỗ gạo này đến kho gạo của Lý gia trong huyện thành. Bản lão gia còn phải đi Hàn Sơn Đạo Quán một chuyến, thắp vài nén hương, làm chút chuyện.” Phú thương họ Lý chắp tay sau lưng, phân phó mấy câu, bảo phu khuân vác mặt đen cho người chuyển gạo đến nhà kho trong thành.

    “Vâng vâng, tạ Lý lão gia!”

    Đầu tử khuân vác mặt đen mừng rỡ, khom người gật đầu lia lịa. Gã liền ngoảnh lại, hướng về phía đám hán tử khuân vác hô lớn: “Các huynh đệ, Lý lão gia thưởng cho chén cơm ăn này. Các huynh đệ khẩn trương làm việc thôi!”

    Đám phu khuân vác hết sức vui mừng, nhất loạt xông vào làm, kẻ gánh gạo, người dỡ hàng. Một đợt chuyển gạo này có thể kiếm được tiền cơm cho mấy ngày liền.

    oooOoOoOooo

    Phú thương họ Lý đích thân áp tải một thuyền gạo, tuy bình yên về đến huyện thành Cô Tô nhưng trong lòng vẫn nơm nớp lo sợ.

    Lão thường niên vẫn ra ngoài mua gạo. Đi đi lại lại trên giang hồ, lão đương nhiên biết Cô Tô thành ngoại từ lâu đã chẳng còn thái bình, mỗi ngày một thêm bất ổn.

    Mười hai mươi năm trở lại đây, Ngô Quận liên tiếp gặp tai vạ, dân lưu vong từ tứ xứ đổ về, sơn tặc thảo khấu cũng dấy lên khắp nơi, kéo bè kết đảng, tác oai tác quái.

    Duy có ngũ đại bang phái uy vũ ngang tàng, mới dám coi khinh đám giặc cỏ ô hợp ấy.

    Đến cường hào ác bá của mười ba huyện Ngô Quận cũng kéo nhau núp dưới trướng ngũ đại bang phái, hòng được bảo hộ. Thế lực của mấy bang phái giang hồ này mỗi lúc một lớn mạnh, đệ tử trong bang có đến hàng ngàn hàng vạn, tung hoành dọc ngang các huyện thành lẫn những vùng quê thôn dã.

    Lão thái thú Ngô Quận lẫn huyện lệnh các huyện có khi phải cậy nhờ các bang phái giang hồ này ra mặt, mới mong giải quyết nổi mớ sự tình nan giải ở các huyện thành.

    Thế nhưng, mấy chuyện này cũng chưa khiến phú thương họ Lý phải lao tâm khổ tứ. Trong lòng lão còn một nỗi lo buồn khác.

    Mấy năm nay lão nhọc tâm quán xuyến những mấy cửa hàng gạo lớn trong huyện thành. Nhân lúc các huyện ở Ngô Quận mất mùa, tứ bề loạn lạc, lão đầu cơ tích trữ, thu mua lương thực với giá rẻ rồi bán lại với giá đắt, quả thực đã kiếm về không ít bạc, tích lũy được một cơ nghiệp đồ sộ.

    Nhưng lão cưới vợ được hơn mười mấy năm, lại nạp liên tiếp mấy người thiếp mà vẫn không có mụn con nối dõi. Cuối cùng đến người tiểu thiếp thứ ba, mới sinh được cho lão đứa con gái Lý Kiều bảo bối này. Có điều con bé được nuông chiều từ nhỏ, thể chất yếu nhược, thường hay nhiễm phong hàn, uống bao nhiêu thuốc cũng không thấy khỏe hơn, khiến lão nóng ruột lắm.

    Lão đương nghĩ có nên chăng đưa con bé đến các bang phái giang hồ bái sư học nghệ, rèn giũa một phen. Luyện võ cũng có thể cường kiện thể phách, trị được tận gốc bệnh tật.

    Vả chăng trong mấy năm nay, thế lực của các bang phái giang hồ mỗi lúc một thêm lớn mạnh, so với mấy gian hàng gạo của nhà lão đương nhiên có tiền đồ hơn.

    Quả là nhà họ Lý ở huyện thành Cô Tô này có đến mấy cửa hàng gạo, trải mấy mươi năm làm ăn kinh doanh mà tích lũy được một gia sản kếch xù, trong nhà lại nuôi mười mấy tên gia đinh, tôi tớ cùng vài mụ già giúp việc. Nhưng chớ thấy họ Lý khấm khá hơn một chút so với bá tính bình dân mà cho rằng địa vị của gia tộc lão ở huyện thành Cô Tô này cao.

    Ngẫu nhiên vài tên nha dịch nào đó cũng có thể ở trước mặt lão giễu võ giương oai.

    Rồi ngày thường lão theo thuyền buôn vận chuyển thóc gạo, nếu gặp phải người của mấy bang phái giang hồ, bị bọn chúng bắt chẹt, cũng chỉ có nước ói máu mà cúc cung hiếu kính.

    Nếu nhi nữ của lão có thể đầu nhập một trong năm đại bang phái, tương lai ắt sẽ có được lối thoát tốt, chắc chắc tốt, ăn đứt mấy cửa hàng gạo của lão. Ngày sau con bé có thành tựu nhất định rồi, ở huyện thành này cũng chẳng có bao người dám bắt nạt kẻ buôn gạo như lão nữa.

    Phú thương họ Lý ngẫm nghĩ một hồi, lại hướng về phía quý phu nhân kia, nói: “Phu nhân, bà nói xem, ta đưa Kiều Nhi đến bang phái giang hồ rèn giũa một thời gian thì sao? Ta đã suy đi tính lại mấy năm nay, một trong tứ đại bang phái của Ngô Quận là Dược Vương Bang cũng được đấy, tiền tài lắm mà thế lực cũng mạnh, lại hay trị bệnh tích đức, thanh danh tốt đẹp.

    Dược Vương Bang tháng chạp hàng năm đều sẽ chiêu mộ thêm một lượng lớn đệ tử ngoại môn cùng ít đệ tử nội môn, tính ra trùng đúng vào mấy ngày này.”

    Gương mặt vị phu nhân ấy có hơi biến sắc. Trong thâm tâm, bà không mong con gái phải mạo hiểm dấn thân vào chốn giang hồ: “Lão gia, nhà ta dù gì cũng là gia đình hào môn trong huyện thành, có đến mấy hiệu gạo lớn, không phải lo cái ăn cái mặc. Chúng ta chỉ có mỗi mụn con gái này, mà giang hồ chém chém giết giết, ngộ nhỡ có bất trắc gì...?!”

    “Bà đúng là đồ đàn bà chẳng hiểu gì, chỉ thấy trước mắt vài năm có thể sống tốt rồi nói bừa! Hiện thời thế đạo bên ngoài đã loạn, lời nói của nha môn không cần đếm xỉa đến. Nếu không có chỗ dựa, gia đình ta ngày tháng sau này sẽ rất khó khăn. Chuyện này ta làm chủ!

    Kiều Nhi, cha tìm người đem lễ vật lót đường, đưa con vào Dược Vương Bang làm đệ tử nội môn!"

    Phú thương họ Lý đã hạ quyết tâm, chuẩn bị đem số của cải kếch xù tích góp được trong mấy năm nay lo liệu việc này.

    Đệ tử các bang phái giang hồ phân thành nội môn và ngoại môn.

    Xuất phát điểm của đệ tử nội môn vốn đã cao hơn đệ tử ngoại môn, ngày sau càng có hy vọng trở thành nhân vật cao tầng trong bang phái.

    Lão muốn dùng chỗ tiền tài kiếm được trong mấy năm nay dọn đường cho con gái trở thành đệ tử nội môn của bang phái lớn, có thế mới mong rộng đường tương lai.

    “Nhưng mà lão gia, chúng ta trước nay nào có qua lại với giang hồ, biết đào đâu ra cách?”

    “Hàn Sơn Chân Nhân của Hàn Sơn Đạo Quán là đệ nhất thế ngoại cao nhân trong mười ba huyện Ngô Quận. Ngài ưa hành thiện tích đức, danh vọng cao ngất, cả quan phủ, lão bá tánh lẫn giang hồ nhân sỹ đều kính ngưỡng. Nếu cầu được ngài ấy ra mặt, chắc chắn sẽ không thành vấn đề. Nhưng Chân Nhân thường vân du tứ phương, như “thần long kiến thủ bất kiến vỹ”(4), không dễ gì gặp được.

    Cũng may, đại đồ đệ của ngài là Thanh Hà đạo trưởng bình nhật đều ở trong đạo quán. Người này giao thiệp rộng rãi, quen biết không ít nhân vật cao tầng của các đại bang phái, mà tính cách cũng nhiệt tình.

    Ta chuẩn bị một phần hậu lễ đến cầu đạo trưởng, nhờ ngài nói giúp một tiếng, việc này ắt có thể thành.”

    Phú thương họ Lý chỉnh lại tấm áo khoác da dày trên người, dắt tay cô con gái thân nhiễm phong hàn, vẫy một chiếc kiệu lớn bốn người khiêng, cùng phu nhân lên kiệu.

    Mấy người kiệu phu khiêng chiếc kiệu lớn, đám đông nô bộc cùng mấy mụ già túm tụm đi theo. Chiếc kiệu lắc lư đi về hướng cửa Tây huyện thành Cô Tô.

    Cô Tô thành ngoại, cách bến Tây Môn không xa, chính thị Hàn Sơn Đạo Quán.

    Phú thương họ Lý để lại hai tên gia đinh thân tín coi việc chuyển gạo, đem theo phu nhân, con gái với một đám gia đinh, nô bộc đến Hàn Sơn Đạo Quán cầu kiến Thanh Hà đạo trưởng.

    oooOoOoOooo

    Tô Trần vẫn ở suốt trên bến. Mắt thấy cả nhóm phu khuân vác đều đã có việc để làm, bản thân lại đói đến rã ruột, y hết sức nóng lòng. Lửa quả tình đã lem đến tận chân mày(5).

    Y vô tình nghe được đoạn đối thoại của phú thương họ Lý với vợ trước lúc rời đi.

    Mấy lời đó y chẳng để tâm mấy, chỉ lưu ý mỗi câu: “Dược Vương Bang tháng chạp hàng năm đều sẽ chiêu mộ thêm một lượng lớn đệ tử mới!”

    Nghĩ đến đây, Tô Trần đánh trống ngực.

    Dược Vương Bang sắp chiêu mộ đệ tử?

    Cũng chẳng rõ lần chiêu mộ đệ tử này đòi hỏi những điều kiện gì. Kẻ xuất thân chài lưới như y, liệu có thể trở thành đệ tử bang phái?

    Song mấy ý niệm này cũng chỉ vụt thoáng qua trong tâm thức Tô Trần.

    Chén cơm đêm nay còn chưa có mà ăn, thì nước xa sao cứu được lửa gần?

    Tô Trần tìm trên bến Tây Môn đã nửa ngày mà vẫn chưa có việc để làm, bụng thì đang réo ầm ầm. Ngước mắt thấy trời đã về chiều, vầng dương cũng tà tà ngả về Tây. Giờ y chỉ còn nước đi vào thành nội tìm vận may, nghĩ cách kiếm được cái ăn rồi hẵng tính tiếp vậy.

    ---------------------------------
    Chú thích của người dịch:
    (1) Phong Kiều: “Phong Kiều” được tác giả nhắc đến ở đây là tên gọi một cây cầu đá thuộc địa giới Tô Châu (tỉnh Giang Tô, Trung Quốc) ngày nay. Phong Kiều đã nhiều lần đi vào thi ca, trong đó có tác phẩm “Phong Kiều dạ bạc” nổi tiếng của nhà thơ Trương Kế đời Đường.
    (2) Màn thầu thô lương: một loại màn thầu trong thành phần chính ngoài bột mỳ còn có bột ngô, đậu hoặc cao lương, khác với màn thầu thông thường chỉ có bột mỳ.
    (3) Đầu tử: thủ lĩnh, người cầm đầu.
    (4) Thần long kiến thủ bất kiến vỹ: ẩn dụ những người có bản lĩnh hoặc tài năng dị thường nhưng hành tung thần bí, không để lộ chân tướng. (Nguồn tham khảo: dict.revised.moe.edu.tw/cgi-bin/cbdic/gsweb.cgi?o=dcbdic&searchid=Z00000131405)
    (5) Lửa đã lem đến tận chân mày (nguyên văn Hán Việt: “hỏa đáo mi mao”): thành ngữ, chỉ sự tình cấp bách, hàm nghĩa tương tự như “nước đến cổ”.


     
  4. Lôi Soái

    Lôi Soái And so the legend begin! Đại Boss

    Được thích:
    315,915
    Ta Là Tiên Phàm
    Tác giả: Bách Lý Tỉ
    Chương 4: Thiên Ưng Khách Sạn

    Dịch: sheishict
    Biên: Hoa Gia Thất Đồng
    Nguồn: Bạch Ngọc Sách




    Từ bến tàu Tây Môn đi về hướng huyện thành khoảng nửa dặm là đến Hàn Sơn Đạo Quán.

    Nơi đây đình viện trang nghiêm, tường đỏ ngói đen ngọc yên ắng, cánh cửa thanh đồng rộng mở. Tín khách ra ra vào vào, hương khói không ngớt. Cảnh tượng mỗi lúc một thêm náo nhiệt.

    Cổ quán Hàn Sơn có hơn nghìn năm lịch sử, nhưng trước nay vẫn trầm mặc ung dung, không nổi danh mấy.

    Mãi đến khi quán chủ đương nhiệm – Hàn Sơn Chân Nhân, hai mươi năm trước tiếp quản cổ quán này, tự mình tọa trấn bên trong cổ quán, tăng cường tiên pháp khiến cho thanh danh của cổ quán Hàn Sơn đại chấn, từ đó hương khói không ngớt.

    Tô Trần từng nghe các ngư dân trong thôn Chu nói, vị Hàn Sơn Chân Nhân này thần thông quảng đại, có thể đạp sóng đi trên các sông lớn hồ lớn, mọi chuyện trong thiên hạ không gì là không biết, bấm tay bói toán lại càng lợi hại hơn.

    Hàn Sơn Chân Nhân được công nhận là tuyệt thế cao nhân, danh chấn toàn bộ mười ba huyện của Ngô Quận, thậm chí huyện lệnh đại lão gia nếu muốn gặp Hàn Sơn Chân Nhân cũng phải đích thân đến đạo quán bái kiến.

    Có điều, mấy năm gần đây, Hàn Sơn Chân Nhân rất ít khi ở trong đạo quán, chỉ vân du tứ hải, kết bạn với cao nhân ở khắp nơi.

    Thường dân bách tính phải may mắn lắm mới có cơ hội diện kiến Hàn Sơn Chân Nhân ở đạo quán này. Bình nhật đến Hàn Sơn Đạo Quán, thường chỉ có thể gặp được năm đại đồ đệ cùng đồ tử đồ tôn của ngài mà thôi.

    Truyền kỳ về Hàn Sơn Chân Nhân khiến cho cậu thiếu niên mười hai tuổi như Tô Trần sinh lòng kính nể đối với cổ quán Hàn Sơn.

    Hơn mười năm trước, khi Tô Trần vừa mới ra đời, lão quán chủ Hàn Sơn Chân Nhân đã xem bệnh cho y một lần, lại còn ban cho y một cái tên.

    Trong lòng vô cùng kính nể, lại có xen lẫn một chút tò mò đối với Hàn Sơn Đạo Quán, nhưng Tô Trần vẫn chưa có cơ hội vào bên trong, thế nên y có chút tiếc nuối.

    Hiện tại, quần áo rách rưới quá nên y không dám đi vào trong cổ quán, nhưng vẫn cung kính đứng ở xa xa lạy vài cái, coi như biểu lộ lòng cảm kích. Y nghĩ đến sau này, nếu giàu có, sẽ vào trong cổ quán thắp vài nén nhang.

    oooOoOoOooo

    Tô Trần đi qua cổ quán, lại đi hơn nửa dặm nữa, rất nhanh đã đến huyện thành Cô Tô.

    Đường trong thành còn náo nhiệt phồn hoa hơn cả bến tàu Tây Môn. Xe ngựa lớn nhỏ nối đuôi nhau, khắp nơi đều có người qua lại hết sức rộn ràng. Tất nhiên một nơi thâm sơn cùng cốc như thôn Chu không thể nào sánh bằng.

    Dọc hai bên đường là đủ các loại cửa hàng: cửa hàng quần áo và trang sức, cửa hàng tạp hóa, hiệu thuốc, ngân hàng tư nhân, tiệm cầm đồ, còn có tiệm rèn vũ khí, cửa hàng mỹ phẩm, tửu lâu, trạm dịch…

    Tất nhiên cũng không thể thiếu cảnh người khiêng kẻ gõ, tiếng rao hàng của những quán lề đường, các gánh xiếc biểu diễn xin tiền.

    So sánh thì thấy, ở thôn Chu chỉ có mấy tiệm tạp hóa nhỏ với hàng thịt lề đường, những cái khác như cửa hàng xa hoa hay gánh xiếc đều không có.

    Mỗi lần Tô Trần đến huyện thành Cô Tô đều nhìn đến hoa cả mắt, trong lòng không khỏi sinh lòng ngưỡng mộ những gia đình sống ở Cô Tô. Y luôn nghĩ, nếu có một ngày có thể sống ở một chỗ phồn hoa như huyện thành Cô Tô thì quá hạnh phúc rồi.

    Nhưng đến khi ngẫm lại mới biết chuyện đó không thể nào trở thành sự thật.

    Bây giờ y buộc phải rời khỏi quê nhà đi đến huyện thành Cô Tô kiếm sống, cũng đang lo lắng đến bạc tóc.

    Muốn sinh sống ở huyện thành Cô Tô phồn hoa này khó khăn trùng trùng, chỉ tìm một việc làm kiếm sống qua ngày, một chỗ để ngủ cũng đã là hai vấn đề khó khăn lớn rồi.

    Trên đường đi đến huyện thành, y chỉ ăn có mỗi một cái bánh ngô, lại còn phải đi cả ngày trời khiến cho bụng y kêu vang, cả người đã mệt mỏi rã rời.

    Tô Trần đến từng cửa hàng ở hai bên đường hỏi, chỉ cần có chuyện lặt vặt gì đều làm. Nhưng các cửa hàng kia không ai muốn thuê một đứa giúp việc mới hơn mười tuổi như y, khiến y không khỏi thở dài chán nản.

    Sau hơn một canh giờ không thu hoạch được gì, Tô Trần tiu nghỉa bước thấp bước cao trên đường.

    Y tình cờ đi ngang đình viện của một nhà quyền quý giàu có. Từ trong viện đột nhiên chạy bổ ra mấy con chó hung dữ, hướng về phía Tô Trần mà sủa, khiến y không khỏi hoảng hốt, vội vàng chạy đi.

    Chó dữ liên tục đuổi theo phía sau khiến cho Tô Trần sợ đến mức phải chui vào hẻm nhỏ, không cẩn thận giẫm lên nước thải hôi thối, chân tay bụng dạ đều run rẩy; lại chạy một mạch mấy con đường nữa, trốn vào một góc hẻo lánh mới thoát được mấy con chó kia.

    Tô Trần thở hổn hển, muốn ở trong góc này nghỉ chân một chút.

    Nhìn quanh quất, y lại lấy làm kinh ngạc.

    Cái góc hẻo lánh mà y ẩn thân lại có mấy tên ăn mày.

    Có bốn năm tên ăn mày cả già lẫn trẻ đang nằm ngổn ngang phơi nắng, thỉnh thoảng còn đưa tay gãi mấy con rận. Trên mặt đất còn có mấy cái bát gỗ, bát sành dùng để xin cơm với tiền lẻ.

    Mấy năm gần đây, lưu dân đến huyện thành Cô Tô ngày càng nhiều. Bên trong huyện thành, những tên ăn mày tụm năm xúm ba như thế này cũng không phải là ít gặp.

    Một tên thanh niên ăn mày mặt hình chữ “quốc”(国), đầu tổ quạ, bộ dạng nghênh ngang đang dựa vào góc tường, trước mặt có duy nhất một chiếc bát sứ hoa văn tinh xảo đẹp mắt. Hiển nhiên đây là thủ lĩnh của đám ăn mày.

    “Tiểu huynh đệ, ngươi muốn gia nhập vào đội ăn mày của lão Chu ta sao ?”

    Tên thanh niên ăn mày thấy Tô Trần lao vào trong cái góc hẻo lánh này, dùng ánh mắt kỳ quái nhìn qua.

    “Không! Ta chỉ đi ngang qua đây thôi.” Tô Trần vội vã xua tay lắc đầu.

    “Không phải đến gia nhập thì chính là muốn đến cướp địa bàn của lão Chu ta rồi? Hừ, muốn tìm cái chết sao! Chỉ cần một bãi nước bọt cũng đủ dìm chết ngươi!”

    Tên thủ lĩnh ăn mày lộ ra vẻ hung ác, nhổ một bãi nước bọt về phía Tô Trần, nhìn y như kẻ thù.

    Tô Trần bị dọa nhảy dựng lên, né bãi nước bọt.

    Vô duyên vô cớ bị tên ăn mày này nhổ nước bọt, trong lòng y vô cùng tức giận. Lúc trước đụng phải bọn lưu manh côn đồ cũng thôi không nói, chẳng ngờ ngay cả mấy tên ăn mày nghèo kiết xác ở cái huyện thành này cũng hung hăng bắt nạt y.

    Tô Trần tức giận đá bay chiếc bát sứ có hoa văn của tên thủ lĩnh ăn mày, đoạt đường chạy đi.

    “Trời ơi, chiếc bát sứ bảo bối của lão tử vỡ rồi, các huynh đệ đâu, bắt lấy tên tiểu tử thối này, đánh chết nó cho ta!” Thấy chiếc bát sứ quý giá của mình bị Tô Trần đá bay vào trong góc tường, vỡ ra kêu “choang” một cái, tên ăn mày không khỏi đau lòng hét lên, buông tiếng chửi rủa.

    Bị mấy tên ăn mày đuổi theo như bầy ong vỡ tổ, Tô Trần không khỏi sợ hãi, vắt giò lên cổ chạy trối chết.

    Mãi đến gần chạng vạng tối, mấy tên ăn mày mới không đuổi nữa, lại tản ra khắp nơi ăn xin.

    Tô Trần vừa mệt vừa đói, cả người lại lấm lem bùn đất, nhếch nhác lê bước trên đường phố huyện thành Cô Tô.

    Y ngẩng đầu nhìn, thấy mặt trời đang dần lặn về hướng tây.

    Gió lạnh vào lúc chạng vạng tối bắt đầu nổi lên, quần áo lại mỏng manh, trong lòng y bỗng cảm thấy chua xót, khóc không ra nước mắt. Y thật sự là một kẻ xui xẻo, uống hớp nước thôi cũng lạnh đến đáy lòng.

    Y bận rộn cả buổi trưa không tìm được việc, đang yên đang lành thì bị chó dữ đuổi, lại còn bị mấy tên ăn mày truy bắt, không gặp được chút chuyện tốt nào.

    “Chỉ sợ tạm thời không tìm được việc làm ở huyện thành Cô Tô này, trời gần tối vừa lạnh vừa giá, nếu đêm nay không tìm được chỗ để ngủ e rằng chịu không nổi.” Tô Trần nắm chặt lấy quần áo suy nghĩ.

    Cả ngày chưa ăn gì, y vẫn có thể miễn cưỡng chịu thêm một chút. Nhưng ban đêm trời lạnh giá, rất khó chịu đựng được, dễ bị chết cóng trên phố.

    Tô Trần vốn không định đi làm phiền người anh em A Sửu, dù sao A Sửu cũng chỉ là một đứa nhóc giúp việc vặt trong khách sạn, cuộc sống cũng không dễ dàng gì.

    Nhưng trước mắt không còn cách nào khác, chỉ có thể đến khách sạn Thiên Ưng tìm A Sửu tá túc lại một đêm. Trước tiên phải sống qua cái lạnh đêm nay đã, ngày mai khi mặt trời lên cao ấm áp hơn sẽ tính tiếp.

    Tô Trần vừa trằn trọc suy nghĩ vừa đi về hướng cửa Tây, đến trước cửa khách sạn Thiên Ưng. Công việc làm ăn nơi đây hết sức phát đạt.

    Tô Trần rất nhanh đã nhìn thấy A Sửu đang luống cuống tay chân trong đại sảnh, thậm chí còn ngửi thấy mùi rượu thịt nồng đậm từ trong khách sạn bay ra khiến y chảy nước miếng không thôi.

    oooOoOoOooo

    Khách sạn Thiên Ưng là sản nghiệp của Thiên Ưng Môn – một trong năm bang phái lớn của Ngô Quận, rất có tiếng ở huyện thành Cô Tô. Nơi đây cũng là một trong những khách sạn có tiếng bậc nhất, là chốn các hào khách giang hồ thường xuyên lai vãng.

    Khách sạn xa hoa bề thế, trên dưới ba tầng lầu, khách đến ngồi kín cả đại sảnh.

    Hôm nay khách sạn Thiên Ưng cực kỳ náo nhiệt, Vương đại chưởng quỹ, đám đầu bếp và hơn mười tên tiểu nhị đều đang bận rộn chiêu đãi khách đến dự yến tiệc tháng chạp của Thiên Ưng Môn.

    Mấy trăm tên tráng hán giang hồ đều mặc cẩm y đại bào, lưng giắt đao kiếm, theo vị trí trong bang mà phân ra ngồi tại các tầng lầu, trên bàn rượu cụng ly cụng chén, ầm ĩ hô to, uống rượu ăn thịt, vô cùng náo nhiệt.

    Có vài lão già mặc cẩm bào, cưỡi trên lưng những con thần tuấn cao lớn. Những nhân vật lớn trong Thiên Ưng Môn cũng đã xuất hiện.

    “Cung nghênh Lý đại hộ pháp, Vương đường chủ đại giá quang lâm.”

    “Ai dô, Liễu đại tổng quản, cuối cùng thì ngài cũng đã tới rồi! Bên trong đã chuẩn bị tiệc rượu xong xuôi, mọi người đang chờ ngài đấy.”

    Vương đại chưởng quỹ của khách sạn vội vàng mang theo vài tên tiểu nhị đi ra dắt ngựa cho lão, miệng không ngừng nịnh hót lấy lòng.

    Tô Trần nhìn thấy trong khách sạn tụ họp những hào khách giang hồ mặc cẩm bào của Thiên Ưng Môn, ra ra vào vào, trong lòng chỉ còn lại cảm giác kinh sợ.

    Trước kia y vẫn nghe các ngư dân ở thôn Chu nói, những hào khách Thiên Ưng Môn này, trên thì quen biết với quan phủ, dưới thì quen biết giang hồ, hắc bạch lưỡng đạo đều làm ăn; lại thường xuyên chèn ép ngư dân thôn Chu, thủ đoạn bóc lột so với quan sai còn ghê hơn, khiến cho người ta nghe thấy liền hoảng sợ.

    Hào khách giang hồ của Thiên Ưng Môn không dễ trêu chọc, sơ ý một chút là bị đánh đập dã man.

    Tô Trần rất sợ những tên hào khách giang hồ này, ngày thường cũng không dám một mình đi vào trong khách sạn Thiên Ưng.

    Trong khách sạn, Tô Trần cũng chỉ quen biết với đứa nhóc giúp việc là A Sửu.

    A Sửu bằng tuổi y, trên mặt còn có một vết bớt màu xanh, nhìn qua có hơi xấu, trong khách sạn cũng như ở huyện thành không có bạn bè, thường bị mấy người làm thuê lớn tuổi hơn ở khách sạn ức hiếp.

    Có điều, Tô Trần biết, mặc dù hình dáng của A Sửu không được dễ nhìn, nhưng nhân cách của nó lại rất tốt, cho nên hai đứa trở thành hảo huynh đệ. Mỗi lần y đến huyện thành đều tìm A Sửu chơi đùa.

    “Trần ca đó à, sao ca ca lại đến đây!” A Sửu đang lau ghế, dọn dẹp cơm thừa canh cặn trên bàn, nhìn thấy Tô Trần xuất hiện ở ngoài khách sạn, không khỏi kinh hỷ, muốn chạy đến bắt chuyện cùng Tô Trần.

    Bỗng nhiên một bàn tay lớn từ trên giáng xuống, dùng sức nhéo lỗ tai A Sửu, sau đó truyền đến tiếng Vương đại chưởng quỹ đang nổi giận: “A Sửu, tên lười biếng này, muốn trốn việc đúng không? Còn không mau đi dọn bàn đi!”

    “Ai da, lỗ tai sắp rớt… rớt rồi! Đại chưởng quỹ tha mạng!” Lỗ tai bị nhéo đau, A Sửu la lên như lợn bị chọc tiết, liên tục xin Vương đại chưởng quỹ bỏ qua.

    Phần đông những hào khách đang ăn uống trong tửu lầu thấy cảnh này, không khỏi cười ha ha, vỗ bàn một cách khoái chí.

    Tô Trần lại càng không dám tiến vào khách sạn Thiên Ưng, trước tiên ở xa xa phất phất tay với A Sửu, sau đó vội vàng tiến vào trong góc nhỏ đầu đường đối diện với khách sạn, chờ đến lúc khách sạn đóng cửa.

    A Sửu vốn là một tên tiểu nhị sai vặt, phải bưng trà rót nước cho đám hào khách giang hồ đang ở trong khách sạn không ngơi nghỉ, e rằng đến lúc khách sạn đóng cửa mới có thể rảnh tay được.

    Tô Trần nhìn sắc trời, đã nhá nhem tối rồi. Đoán chừng đến tối, sau khi đám hào khách này ăn uống no say sẽ rời đi.

    Y đối với những chỗ khác trong huyện thành cũng không quen thuộc, sợ lạc đường nên ban đêm càng không dám đi lung tung, chỉ có thể đợi ở góc đường, chịu đựng cơn đói.

    Làm tiểu nhị bên trong khách sạn Thiên Ưng cũng không dễ dàng gì. Chỉ cần A Sửu bưng đồ cho khách chậm một chút là liền bị đại chưởng quỹ chửi mắng không ngớt.

    Còn có một số hào khách tính tình hung dữ, đám tiểu nhị bưng đồ chậm một chút liền cho một cái bạt tai xây xẩm mặt mày.

    Tô Trần lui vào trong góc tường, từ xa nhìn thấy cảnh tượng như vậy, cảm thấy xót xa thay cho A Sửu.

    Những người làm thuê mướn cho khách sạn rất đáng thương, vừa bận vừa mệt, đã thế lại còn bị đám hào khách giang hồ cùng đại chưởng quỹ thay phiên đánh chửi.

    Y ở vùng sông nước thôn Chu, tuy rằng cuộc sống rất kham khổ, thường xuyên ăn xong bữa nay lại lo đến bữa mai có gì ăn không, nhưng cũng không bị người ta nhục mạ như vậy.

    Ngày thường, cha mẹ bận bịu đánh cá ở hồ lớn, để y mặc ý bắt cá trên sông nhỏ, trèo cây lấy trứng chim, hái rau dại trên đất hoang, tự mình tìm đồ ăn. Tự do quen rồi, không có ai quản thúc y.

    Lòng Tô Trần ai thán, không biết cho A Sửu hay là cho chính bản thân mình.

    Về sau, y ở huyện thành này tìm một việc vặt theo phụ người khác, e rằng cũng giống như A Sửu, cả ngày bị người ta bắt nạt.

    oooOoOoOooo

    Mặt trời lặn xuống hướng tây, bầu trời hoàn toàn bị bao phủ bởi màn đêm.

    Gần khuya, đám tráng hán Thiên Ưng Môn trong khách sạn Thiên Ưng đã ăn uống no say, ôm quyền chào cáo biệt nhau, từng người từng người rời đi. Khách sạn Thiên Ưng lúc này mới đóng cửa.

    Trên mặt A Sửu có mấy vết máu bầm, lỗ tai sưng phù, rõ ràng là bị đại chưởng quỹ và đám hào khách giang hồ kia đánh chửi không ít. Nhưng rốt ruộc khách sạn cũng đã đóng cửa, trên mặt nó lộ ra vẻ hưng phấn.

    Những hào khách Thiên Ưng Môn ăn uống rất tùy tiện, còn thừa lại rất nhiều thức ăn.

    Đồ ăn còn thừa lại rất nhiều, hôm nay hiếm khi có dịp Vương đại chưởng quỹ từ bi thánh thiện để cho đầu bếp cùng đám người làm thuê gói ghém mang về.

    Ngay cả một tiểu nhị cấp thấp như A Sửu cũng được chia không ít.

    Nó dùng một tấm lá sen lớn đem chỗ thức ăn thừa này bọc lại, còn có mấy nắm cơm lớn và một ít thịt vụn thừa, sau đó vẫy gọi Tô Trần khi ấy đang nấp trong góc tường tránh gió rét. Hai đứa mừng vui, cùng nhau trở lại hậu viện khách sạn Thiên Ưng.

    Hậu viện của khách sạn Thiên Ưng rất lớn, là chỗ đám đầu bếp và mấy người giúp việc nấu cơm, rửa rau và làm các việc lặt vặt khác.

    Ở trong góc sân, có một phòng củi dùng để chứa rơm rạ và củi, chính là chỗ ở của A Sửu.

    Tô Trần thấy mặt mũi A Sửu bầm dập thì cảm thấy hổ thẹn nói: “A Sửu, lại gây thêm phiền toái cho đệ rồi! Hại đệ bị Vương đại chưỡng quỹ đánh một trận.”

    “Nói gì thế, chúng ta là huynh đệ, cho dù ca ca không đến thì mỗi ngày đệ cũng bị Vương đại chưởng quỹ đánh. Trần ca lại đây, khó khăn lắm ca ca mới đến huyện thành một chuyến, hôm nay đệ mời ca ca ăn no một bữa! Chỗ này có nửa cái chân giò hầm cách thủy, còn có non nửa cái đuôi cá diếc kho. Đây chính là đồ tốt do đầu bếp của khách sạn chúng ta nấu, không giống với cách nấu cá với nước trắng của gia đình chúng ta, có bỏ thêm một ít dầu hạt cải, muối trắng và hơn mười loại hương liệu, nấu bằng lửa lớn, cực kỳ thơm.”

    A Sửu khoe. Mặt mày hớn hở, nó phấn khởi trải cái túi đồ ăn ra đất.

    Tô Trần ngửi thấy mùi hương kì lạ, nuốt nước bọt “ực” một cái.

    Nhà y là ngư dân ở thôn Chu, đương nhiên có thể thường xuyên ăn cá hồ tôm sông. Tôm cá của khách sạn Thiên Ưng phần lớn là do ngư dân của thôn Chu đem tới bán. Có điều, cách nấu cá ở nhà so với cách nấu của khách sạn hoàn toàn khác biệt. Cách nấu cá ở nhà rất đơn giản, chỉ cần cho cá vào trong nồi nước, nấu chín là có thể vớt lên ăn. Hương vị rất nhạt nhẽo, lại còn rất tanh.

    Nếu như có thể bỏ vào trong nồi một ít muối ăn và vài lá cải xanh, lại thêm một chút dầu cải, ngửi được một mùi dầu mỡ và muối, đối với những ngư dân thôn Chu mà nói là một cách nấu ăn xa xỉ.

    Mà như đầu bếp của khách sạn Thiên Ưng, bỏ vào trong nồi vài muỗng dầu, một nắm muối, lại thêm hơn mười loại hương liệu không biết tên để kho cá diếc, sắc hương vị đều tuyệt vời, quả thực là quá xa xỉ, đến nỗi ngư dân thôn Chu không thể tưởng tượng nổi.

    Tô Trần chưa bao giờ được ăn món ngon như vậy, chỉ là thường xuyên nghe A Sửu kể qua.

    “Không cần, A Sửu, đệ cứ ăn đi! Ăn xong chừa lại một ít cơm, một ít nước đồ ăn để cho ta nếm thử hương vị thơm ngon là được rồi.” Trong lòng có chút ngưỡng mộ, nhưng Tô Trần vẫn từ chối.

    Y đến tìm A Sửu là để có một chỗ ở tạm, tránh cái lạnh buổi đêm, có chút cơm để ăn cho khỏi chết đói đã là rất phiền cho A Sửu rồi, sao lại có thể chiếm tiện nghi lớn như vậy chứ.

    “Ca ca khách sáo với đệ làm gì, đệ ở trong khách sạn làm việc, mỗi ngày đều có thể ăn những món ngon như thế này! Khó khăn lắm ca ca mới đến chỗ đệ làm khách một bữa. Ca ca ăn trước đi, còn dư lại đệ sẽ ăn.”

    A Sửu nóng ruột, lập tức đưa đồ ăn qua chỗ Tô Trần, tựa như không ăn chính là không nể mặt mũi nó.

    Thực ra, một đứa nhóc làm thuê mướn như nó là tầng lớp áp chót trong khách sạn. Đồ ăn thừa của khách hàng để lại đều bị đại chưởng quỹ, đầu bếp và những người phụ việc lớn tuổi hơn chia nhau hết. Đến phiên đứa nhóc làm thuê tiếp vặt như nó, dĩ nhiên còn lại chẳng đáng bao nhiêu.

    Ngày thường, ngay cả nước canh thịt thừa, nó cũng chưa từng uống qua. Nó dõi mắt chờ mong những bát nước canh béo ngậy, nhưng đều bị đám giúp việc lớn hơn chia nhau hết.

    Chỉ có hôm nay – yến tiệc tháng chạp của Thiên Ưng Môn, mới có nhiều đồ ăn thừa như vậy. Tất cả mọi người đều được phân chia đầy đủ rồi, nó mới may mắn có được một hai phần mang về.

    “Đệ ăn trước đi!”

    “Không, Trần ca ăn trước đi!”

    Hai gã thiếu niên đẩy tới đẩy lui. Ngửi thấy mùi thơm của chân giò, non nửa cái đuôi cá diếc kho cùng với vài nắm cơm lớn, chúng nó đều thèm muốn chết nhưng không ai chịu ăn trước.

    Cuối cùng hai đứa nó quyết định, chia mỗi đứa một nửa, đỡ phải đưa đẩy từ chối.

    Tô Trần và A Sửu lập tức ăn ngấu ăn nghiến những “món ngon” này, ăn không còn một mẩu, cảm thấy mỹ mãn về bữa ăn no này. Hương vị của những món ngon này đủ cho chúng nó nhớ về dư vị trong suốt mấy tháng.

    oooOoOoOooo

    Trong màn đêm hun hút của huyện thành Cô Tô, ngoại trừ thanh lâu, kỹ viện và sòng bạc mở cửa suốt đêm thì không còn trò gì khác để tiêu khiển.

    Tô Trần và A Sửu ăn uống no nê xong, bèn chui vào trong đống rạ nói chuyện phiếm, kể đủ các loại chuyện thú vị về huyện thành Cô Tô và thôn Chu.


     
  5. Lôi Soái

    Lôi Soái And so the legend begin! Đại Boss

    Được thích:
    315,915
    Ta Là Tiên Phàm
    Tác giả: Bách Lý Tỉ
    Chương 5: Khát vọng trong đêm

    Dịch: sheishict
    Biên: Hoa Gia Thất Đồng
    Nguồn: Bạch Ngọc Sách




    Đêm đông lạnh lẽo.

    Khắp nơi trong phòng củi đều lọt gió, gió bấc lạnh lẽo lùa thẳng vào.

    Trần nhà bị thủng, thậm chí có thể ngắm được sao trên bầu trời đêm. Tất nhiên phòng củi không có chăn đệm, cũng may bên trong chất hơn mười đống rơm rất dày, có thể thay cho chăn.

    Tô Trần và A Sửu trải rơm dày lên trên mặt đất lạnh như băng rồi chui vào trong, so với chăn bông thì cũng ấm áp nhưng bị những sợi rơm sắc bén cứa vào da thịt.

    Những lỗ thủng trên bốn vách tường của phòng củi cũng đã được che đậy bằng rơm.

    Hai thiếu niên chen chúc trong đống rơm ấm áp, hơi ấm từ bên trong tỏa ra đủ khiến hai đứa chúng nó mãn nguyện vô cùng.

    “À phải rồi, Trần ca, sao lần này chỉ có mình ca đến đây vậy? Bình thường không phải đều theo cha đến huyện thành bán cá hay sao?” A Sửu có chút khó hiểu.

    “Ta lần này đến huyện thành không phải để bán cá, mà là bỏ nhà ra đi…” Tô Trần lắc đầu, chui vào sâu bên trong đống rơm, từ đôi mắt trong veo lộ ra vẻ ảm đạm buồn bã. Ngẩng đầu nhìn lên bầu trời đêm qua lỗ thủng trên trần nhà, khuôn mặt trẻ con của y vô cùng mờ mịt.

    Y đem đầu đuôi mọi chuyện kể cho A Sửu...

    Năm nay trong nhà hết sức khó khăn, lại còn phải đóng thuế thuyền cho huyện nha và phí bảo kê cho Cự Kình bang; cha mẹ muốn bán y cho một gia đình giàu có thiện tâm để làm người hầu; lại còn cả chuyện y mắc một căn quái bệnh: khóc ra thanh thạch lệ… Từng chuyện từng chuyện một đều đem kể cho A Sửu nghe.

    Y không muốn bị bán làm người hầu, cũng không còn cách nào ở lại thôn Chu, chỉ có thể một thân một mình lặn lội đến huyện thành Cô Tô kiếm sống. Nhưng y ở huyện thành không thân không thích, nhất thời cũng không có chỗ để ở tạm, chỉ có thể tìm người anh em A Sửu nhờ giúp đỡ; ít nhất cũng có một chỗ để dung thân, có chút cơm để ăn, không đến nỗi chết đói chết rét ở đầu đường xó chợ.

    A Sửu nghe xong thì giật mình, không khỏi khẩn trương: “Trần ca, ngàn vạn lần đừng có đồng ý bán mình làm nô nha! Những kẻ giàu có trong huyện thành này đối xử với người hầu như chó lợn, chết rồi cũng không ai quan tâm.

    Đừng thấy đệ ở trong khách sạn Thiên Ưng chỉ là một tên giúp việc vặt, thường xuyên bị đại chưởng quỹ và khách hàng đánh chửi, nhưng bọn hắn không dám ra tay độc ác đánh chết đệ. Nếu như đánh chết, huyện lệnh lão gia nhất định sẽ phái quan sai tới bắt người hỏi tội, giam vào đại lao.

    Nhưng nếu ca ca bán thân làm nô bộc cho người ta, thì đó chính là đầy tớ thấp hèn nhất. Nếu lỡ làm sai chuyện gì sẽ bị chủ nhân dùng côn đánh chết, sẽ không một ai làm chủ cho ca, nhiều lắm thì chủ nhân cũng chỉ bị nha môn phạt một hai lượng bạc mà thôi. Đừng nghe những người đó nói thiện tâm với chả không thiện tâm, tất cả đều là những lời vớ vẩn! Cho dù gia chủ có chút ít thiện tâm, nhưng đến một ngày không còn cần ca ca nữa thì sẽ lại bán ca ca đi. Ca dám nói gia chủ tiếp theo cũng là một người thiện tâm không?

    Bán mình làm nô thì hết thảy mọi chuyện không còn do mình làm chủ nữa!”

    A Sửu cấp bách đến mức mặt cũng đỏ lên, sợ Tô Trần nhất thời yếu lòng mà phạm phải sai lầm, đồng ý bán mình.

    “Ta cũng không muốn bán thân làm người hầu cho kẻ khác nên mới bỏ nhà đi đến huyện thành Cô Tô, nghĩ cách tìm một công việc nuôi sống bản thân mình.”

    Vẻ mặt Tô Trần ảm đạm. Thấy A Sửu kích động như vậy, y có chút khó hiểu: “Có điều, A Sửu, sao đệ phản ứng kịch liệt như vậy? So với ta còn khẩn trương hơn!”

    Hốc mất A Sửu đỏ lên, vẻ mặt bi thương nói không nên lời, gục đầu xuống: “Ca ca cũng biết đấy, đệ là cô nhi từ nhỏ không có cha mẹ yêu thương, chỉ biết mình họ Phỉ… Nhưng mà, kỳ thực đệ còn có một tỷ tỷ. Tỷ ấy nuôi nấng đệ từ nhỏ đến lớn. Có một năm mùa đông, đệ mắc phải bệnh ho khan lại không có tiền điều trị. Thấy đệ sắp không chịu đựng được nữa, tỷ tỷ vì muốn có tiền cho đệ chữa bệnh mà buộc phải bán thân cho một gia đình giàu có trong huyện thành làm tỳ nữ.

    Nào ngờ mới hơn nửa tháng, nữ chủ nhân của gia đình kia nói tỷ ấy quyến rũ chủ tử liền bán nàng cho một thanh lâu trong huyện thành. Mấy năm nay đệ ở trong khách sạn làm một tên giúp việc vặt, dốc sức làm việc kiếm tiền, chỉ mong có một ngày đủ tiền chuộc tỷ tỷ ra khỏi thanh lâu… Nhưng mà… đệ quả thực quá vô dụng, một năm kiếm chẳng được bao nhiêu tiền!”

    Tô Trần trầm ngâm, không biết nói sao để an ủi A Sửu.

    Cho dù không hỏi tiền chuộc thân là bao nhiêu nhưng y cũng biết, muốn chuộc người từ trong thanh lâu ra cần đến một khoản tiền rất lớn, ít nhất cũng là mười mấy lượng, thậm chí lên đến mấy mươi lượng bạc. So với tiền thuế thuyền của huyện nha và phí bảo kê của Cự Kình bang mà nhà y đóng hàng năm thì gấp rất nhiều lần.

    Không phải A Sửu vô dụng. Mà bởi đây căn bản không phải là số tiền một thiếu niên mới mười hai tuổi, làm việc vặt trong khách sạn có thể kiếm ra được.

    Một lúc sau, A Sửu từ trong bi thương hòa hoãn lại. Đây không phải là chuyện nó có thể giải quyết, có đau lòng cũng vô dụng. Nó lại thấy có chút khó hiểu, hỏi: “À phải rồi Trần ca, chuyện ca ca khóc ra thạch lệ là sao vậy? Đệ chưa bao giờ nghe ca ca nhắc đến chuyện này…”

    “Bệnh của ta rất kỳ quái, mỗi lần ta khóc, nước mắt liền hóa thành những viên đá nhỏ màu xanh. Ài, chính là những viên đá nhỏ này. Sau đó ta sẽ bị bệnh nặng một trận, mất gần nửa cái mạng. Ít nhất phải dùng một gốc nhân sâm núi mười năm, mới có thể bồi bổ lại nguyên khí đã mất.”

    Tô Trần vừa nói vừa lấy từ trong ngực áo ra một chiếc túi, lại từ trong túi đổ ra hơn mười viên đá xanh nhỏ. Những thứ này là do y tích góp từ nhỏ đến lớn, luôn cẩn thận giữ gìn bên mình.

    Mỗi một viên đều trơn bóng như nước mắt, mơ hồ tỏa ra ánh sáng xanh, có chút thần bí.

    Chỉ là khi Tô Trần nghĩ đến chuyện, cứ mỗi lần mình khóc ra những viên đá này thì bản thân chực mất nửa cái mạng, y lại cảm thấy rùng mình.

    “Những viên đá này thật là đẹp, những thứ này đều do ca khóc ra sao ?”

    A Sửu cảm thấy khó hiểu. Nó cầm lấy một viên, dùng sức cắn một cái, thiếu chút nữa mẻ răng: “Cứng quá, răng cắn không xi nhê gì!”

    Nó cẩn thận xem kĩ, cũng không nhìn ra được điều gì; nhưng cảm thấy viên đá quả thực rất là đẹp, giống như những viên ngọc trai nhỏ vậy.

    “Cũng có một số thầy thuốc trong huyện thành đã xem qua. Họ nói đây là bệnh thạch, chạm cũng không dám chạm! Có điều, ta mang chúng theo bên người từ nhỏ, thấy không khác những viên đá bình thường là bao, cũng không phát hiện ra chỗ gì đặc biệt. Ta ngủ chung một giường với đệ đệ muội muội, cũng không thấy bọn nó bị lây bệnh.” Tô Trần nói xong, thở dài một cái.

    Từ nhỏ, căn bệnh kì lạ khóc ra những viên đá xanh này chính là tâm bệnh của y, không dễ gì nói với người khác, cho nên trước kia A Sửu cũng không biết.

    A Sửu chẳng cảm thấy căn bệnh kỳ lạ này có vấn đề gì. Chỉ là nó nhìn thấy những viên đá xanh lấp lánh này thì rất ngạc nhiên, cười nói: “Tỷ tỷ đệ thường nói, đại nạn không chết tất có hậu phúc! Mấy năm nay, ca ca khóc cũng không chết, sau này nhất định sẽ rất có phúc.

    Trần ca nhìn xem, những viên đá này trông rất đẹp, có phải nó là châu báu quý giá hay không? Đệ đã từng thấy một cửa hàng bán đồ châu báu trong huyện thành, chính là bán những hòn đá xanh xanh đỏ đỏ kì lạ như thế này cho những tiểu thư nhà giàu, được rất nhiều tiền. Nếu như những viên đá xanh này cũng có thể bán lấy tiền, vậy thì ca ca phát tài rồi.”

    Tô Trần bĩu môi, cười khổ lắc đầu: “Khẳng định nó không phải đá quý, nếu không thì thầy thuốc ở mấy hiệu thuốc bắc đã nhận ra.

    Cha ta từng cầm nó đến gặp quán chủ thần thông quảng đại Hàn Sơn Chân Nhân của đạo quán Hàn Sơn, ngay cả lão nhân gia cũng không nhận ra đây là vật gì. Nếu như nó là thứ có giá trị thì Hàn Sơn Chân Nhân nhất định sẽ nhìn ra, gia đình ta cũng đã chẳng phải vì tiền mua nhân sâm mà lo lắng. Một gốc nhân sâm một lượng bạc đã khiến gia đình ta lo muốn chết rồi.”

    A Sửu gãi gãi đầu, nghĩ lại cũng đúng, vì căn bệnh kì quái của Tô Trần mà lo lắng thay: “Đệ làm sai vặt trong khách sạn mỗi ngày được ba đồng, một năm miễn cưỡng lắm mới tiết kiệm được một lượng bạc. Vất vả một năm kiếm tiền cũng chỉ đủ ăn, không thể giúp ca ca mua nhân sâm được. Trần ca hiện giờ đã bỏ nhà ra đi, vậy ca ca muốn tìm việc gì trong huyện thành để kiếm sống?”

    Tô Trần nghiêm túc nói: “Ban đầu ta đến huyện thành là muốn làm một người giúp việc vặt để sống qua ngày. Nhưng mà khi nãy đứng ở ngoài khách sạn thấy đệ bị đại chưởng quỹ ức hiếp, ta nghĩ giúp việc vặt cũng không phải kế lâu dài. Vẫn phải tìm con đường khác có tiền đồ hơn mới được.

    Lúc ta ở bến tàu Tây Môn, vô tình nghe được một thương nhân nói vào tháng chạp Dược Vương Bang sẽ tuyển đệ tử. Ta đã suy nghĩ cả buổi chiều, dự định ngày mai sẽ đến Dược Vương Bang thử một lần. Nếu may mắn trở thành đệ tử của Dược Vương Bang, trong bang lại có nhiều dược liệu, nói không chừng ta không cần lo lắng không có bạc mua nhân sâm nữa. Thậm chí còn có cơ hội học dược thuật, trở thành một dược sư có thân phận cao quý.”

    “Ca muốn gia nhập Dược Vương Bang?”

    A Sửu bị dọa giật nảy người: “Đây chính là bang phái lớn trong giang hồ đó! Ca muốn lưu lạc giang hồ sao? Lưu lạc trên giang hồ chính là đầu giắt lưng quần, bất cứ lúc nào cũng có thể rơi. Bị người ta giết thì quan phủ cũng không quản.”

    Đối với dân thường ở huyện thành Cô Tô, giang hồ là một thế giới khác.

    Hào khách giang hồ của các bang phái lớn trong huyện thành Cô Tô hoành hành ngang ngược, vung tay hào phóng, thân phận cực cao. Ngay cả quan sai ở huyện nha cũng không dám đắc tội với họ, mà dân thường lại càng thêm kính sợ.

    Nhưng những quyền thế và tài phú đó đều phải dùng vũ lực cao siêu và mạng sống để đổi lấy.

    Nếu như có một tên gia nô chết trong nhà giàu nào đó, huyện nha có thể sẽ phái nha dịch tới hỏi nguyên nhân cái chết, phạt một số bạc. Nhưng người trong bang phái giang hồ chết thì huyện nha cũng chỉ mắt nhắm mắt mở không can dự vào, cái gì cũng không biết.

    “Ta không nghĩ nhiều như vậy. Nếu như căn quái bệnh thanh thạch lệ này trị không khỏi, không chừng một ngày nào đó bệnh tái phát, không có tiền mua nhân sâm thì cũng chỉ có đường chết. Ta gia nhập Dược Vương Bang còn có thể sống lâu hơn vài năm. Còn không, cũng chẳng có cách nào khác giữ được mạng.”

    Tô Trần lắc đầu, không quan tâm đến những nguy hiểm trên giang hồ. Có nguy hiểm hơn nữa, cũng không so được với căn bệnh thanh thạch lệ mà y mắc phải.

    Lúc y bỏ nhà ra đi cũng không bận tâm nhiều, chỉ muốn có thể nuôi sống bản thân mình.

    Nếu như liều một lần có thể trở thành dược sư, thì ở trong huyện thành Cô Tô cũng là một đại nhân vật. Được vậy, coi như đời này đã hết khổ, không cần tiếp tục sống nghèo đói và bị người khác khinh thường nữa.

    “Trần ca, nói như vậy, ca đã quyết tâm gia nhập giang hồ rồi!” A Sửu lập tức nhìn Tô Trần bằng ánh mắt ngưỡng mộ.

    Nó giúp việc vặt ở khách sạn Thiên Ưng nhiều năm qua, đã gặp rất nhiều giang hồ hào khách, trước giờ vẫn luôn đem lòng kính sợ. Nhưng trước nay nó chưa từng có gan nghĩ đến bản thân mình cũng sẽ trở thành một hào khách giang hồ.

    Trần ca muốn gia nhập giang hồ… Đúng vậy, ta sao lại không xông pha giang hồ một lần? Nói không chừng có thể trở thành hào khách...

    Mắt A Sửu lóe sáng, trong lòng bỗng nhiên kích động, toàn thân bắt đầu nóng lên.

    Nó cũng không muốn làm một kẻ giúp việc vặt ở khách sạn Thiên Ưng cả đời, mỗi ngày đều bị Vương đại chưởng quỹ mắng lên mắng xuống, không đánh thì chửi, chịu đựng kiếp tôi tớ. Nó cũng muốn trở nên xuất chúng.

    Nếu như có một ngày nó trở thành hào khách giang hồ, sẽ không còn bị Vương đại chưởng quỹ ức hiếp nữa; ngày ngày đều có thể ăn thịt cá trong khách sạn Thiên Ưng, khiến tên đại chưởng quỹ kia phải khúm núm nịnh hót, bưng trà rót nước hầu hạ bên cạnh. Thậm chí có thể kiếm được rất nhiều tiền chuộc thân cho tỷ tỷ.

    Một tên giúp việc vặt trong khách sạn căn bản không kiếm được bao nhiêu tiền. Chỉ có trở thành đại hào khách mới có thể giàu sang phú quý.

    Đúng!

    Cứ làm như vậy đi!

    “Nếu như Trần ca muốn gia nhập giang hồ, đệ cũng đi. Từ lâu đệ đã không muốn làm trong cái khách sạn này nữa rồi. Lúc nào cũng bị đại chưởng quỹ với đám giúp việc vặt lớn tuổi bắt nạt; ngày nào cũng bị chửi mắng kêu la, trở thành chỗ trút giận cho bọn họ!

    Ca ca gia nhập Dược Vương Bang, đệ sẽ gia nhập Thiên Ưng Môn, học vài vũ kĩ cao cường, trở thành một đại anh hùng, vượt trội hơn người, uy phong tám hướng.”

    Trong lòng kiên định, A Sửu phấn chấn nắm chặt tay.

    Nó không có hứng thú đối với dược thuật của Dược Vương Bang nhưng lại rất hâm hộ vũ kĩ của hào khách Thiên Ưng Môn, dứt khoát muốn gia nhập Thiên Ưng Môn.

    Khách sạn Thiên Ưng này chính là sản nghiệp của Thiên Ưng Môn, vì vậy nó cũng hiểu rõ Thiên Ưng Môn hơn.

    “Được! Ta đi Dược Vương Bang học dược thuật, đệ đi Thiên Ưng Môn học vũ kĩ. Sau này huynh đệ chúng ta học nghệ thành tài, một người là đại dược sư, một người là đại hào khách, cùng nhau kết bạn, phiêu bạt giang hồ.” Tô Trần thấy A Sửu cũng muốn gia nhập giang hồ, không khỏi mừng rỡ. Như vậy, sau này trên giang hồ, y sẽ có một người huynh đệ tốt.

    “Ừ! Ngày mai khi trời vừa sáng, chúng ta sẽ xuất phát, gia nhập bang phái.”

    Hai thiếu niên ngây thơ liều lĩnh càng tán gẫu càng phấn chấn. Chúng nó nghĩ đến viễn cảnh sau khi gia nhập Dược Vương Bang và Thiên Ưng Môn, trở thành cao thủ trong bang phái, địa vị rồi sẽ lên như diều gặp gió.

    Khát vọng muốn trở nên nổi trội hơn người của chúng nó chưa bao giờ mãnh liệt như lúc này.

    Hàn huyên khoảng một hai canh giờ, Tô Trần và A Sửu đều thấm mệt, bắt đầu thiếp đi từ từ. Phòng củi cũng dần dần trở nên im ắng.

    oooOoOoOooo

    Đêm đã khuya. Ngoài phòng gió lạnh bắt đầu thổi.

    Gió lạnh như đao, từng đợt từng đợt như quỷ khóc sói tru đập vào vách phòng củi khiến bên trong càng trở nên lạnh hơn.

    A Sửu đang trong giấc mộng đẹp, giơ nắm tay đấm lung tung vài cái, thỉnh thoảng lại cười khanh khách. Chắc trong giấc mơ, nó trở thành một hào khách thiếu niên phiêu bạt giang hồ, đánh cho đại chưởng quỹ và những người liên quan lên bờ xuống ruộng, không còn ai dám bắt nạt nó nữa.

    Tô Trần chui bên trong đống rơm, thỉnh thoảng giật mình tỉnh giấc vì lạnh, run rẩy túm chặt lấy cái áo gai, cố gắng rúc sâu vào trong đống rơm hơn.

    Y chịu đựng những cọng rơm đâm vào người, trầm tư mặc tưởng về những lời của phú thương họ Lý.

    “Tháng chạp hàng năm, Dược Vương Bang sẽ tuyển một nhóm đệ tử. Phỏng chừng là mấy ngày này rồi! Sáng mai mình phải gia nhập Dược Vương Bang! Từ ngày mai trở đi, mọi thứ sẽ hoàn toàn khác, cuộc sống cũng bắt đầu dễ chịu hơn.”

    Cuối cùng Tô Trần cũng bắt đầu mệt, từ từ thiếp đi bên trong đống rơm, tiến vào cơn mộng đẹp...

    Y mơ thấy mình gia nhập Dược Vương Bang. Khổ cực hơn mười năm, cuối cùng y cũng trở thành một đại dược sư tiếng tăm lừng lẫy trên giang hồ, thậm chí còn may mắn có cơ hội bái kiến đệ nhất cao nhân Ngô Quận – Hàn Sơn Chân Nhân. Hàn Sơn Chân Nhân quả nhiên là đệ nhất thế ngoại cao nhân. Ngài đã nói cho y biết làm sao có thể trị triệt để căn quái bệnh này.

    Tô Trần trị khỏi quái bệnh, không còn là gánh nặng của gia đình nữa, áo gấm về làng trở lại vùng sông nước thôn Chu. Y được các ngư dân trong thôn ngưỡng mộ, trở thành niềm kiêu hãnh của cha mẹ và đệ đệ muội muội, trụ cột của gia đình.

    Sau đó y quay lại Dược Vương Bang khổ tu võ nghệ, trải hai mươi năm trở thành một đại hào khách. Tay y cầm kiếm, chân y đạp nước lướt phiêu phiêu trên Thái Hồ; đánh cho đám thủy phỉ Cự Kình Bang kêu cha gọi mẹ, tan tác tả tơi, kiên quyết xả mối hận trong lòng. Từ đấy về sau, không còn bang phái giang hồ nào dám ức hiếp ngư dân hương thân thôn Chu nữa.

    Cỏ tranh trong phòng rất lạnh, thỉnh thoảng làm Tô Trần giật mình tỉnh giấc vì lạnh, sau đó lại từ từ thiếp đi.

    Thân hình gầy yếu của Tô Trần co ro trong đống rơm. Ý niệm muốn gia nhập Dược Vương Bang trong lòng y mỗi lúc một trở nên rõ ràng và mãnh liệt.


     

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)